Chương 1: Một số vấn đề lý luận Tâm lý học về sự thoả mãn với công việc của ngƣời lao động. - Chương 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu. - Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng sự thoả mãn với công việc của ngƣời lao động tại doanh nghiệp tƣ nhân Tân Việt. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ SỰ THỎA MÃN VỚI CÔNG VIỆC CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Sự thoả mãn với công việc của ngƣời lao động thực chất là sự thoả mãn lao động. Đây là một lĩnh vực của Tâm lý học Lao động. Tâm lý học Lao động là một chuyên ngành của Tâm lý học, nó ra đời vào đầu thế kỷ XX và phát triển mạnh ở các nƣớc phƣơng Tây. Ban đầu, chuyên ngành này đƣợc gọi với cái tên là “Kỹ thuật Tâm lý học”.
Nó ra đời trên cơ sở đáp ứng với nhu cầu mà thực tiễn đòi hỏi để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống lao động của con ngƣời trong xã hội. Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến sự thoả mãn lao động của các tác giả nƣớc ngoài. Nổi bật nhất là các lý thuyết của Abraham Maslow; Clayton Alderfer; David C. McClelland; Victor Vroom.
Và khi nói đến các nghiên cứu về sự thoả mãn lao động, phải kể đến các tác giả: Frederick Herzberg; King; Larouche và Delorme; Lofquist và Dawist; Porter; Maimon và Romen; Turner và Lawrence; Spector; Herrick; Frances; Alderfer; Hulin và Smith; Seybolt; Kendall; Centers và Bugental; Armstrong. Còn ở Việt Nam, sự thoả mãn đối với công việc là lĩnh vực khá mới mẻ và hiện nay mới bắt đầu đƣợc quan tâm nghiên cứu. Chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề này một cách cụ thể hơn ở phần dƣới đây: 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Những nghiên cứu liên quan đến sự thoả mãn Các nghiên cứu lý luận về sự thoả mãn với công việc đƣợc ẩn trong các nghiên cứu về Nhu cầu và Động cơ.
Sau này, khi Tâm lý học Lao động ra đời nhƣ một chuyên ngành của Tâm lý học thì các nhà khoa học mới đi sâu nghiên cứu về sự thoả mãn lao động. Một số lý thuyết liên quan chặt chẽ đến sự thỏa mãn với công việc đó là: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow Maslow (1908 -1970) đã đƣa ra “Lý thuyết Nhu cầu” rất nổi tiếng vào năm 1943. Ông cho rằng: nhu cầu của con ngƣời gồm có 5 loại nhu cầu và nó đƣợc sắp xếp theo thứ bậc nhất định. Các nhu cầu gốc này đƣợc xếp theo thứ tự từ thấp lên cao.
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow đƣợc thể hiện dƣới dạng hình kim tự tháp, các nhu cầu bậc thấp thì xếp phía dƣới: Nhu cầu phát huy bản ngã Nhu cầu đƣợc tôn trọng Nhu cầu yêu thƣơng và đƣợc thừa nhận Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Các loại nhu cầu này đƣợc chia làm 2 nhóm đó là: nhóm nhu cầu cấp thấp và nhóm nhu cầu cấp cao: + Nhóm nhu cầu cấp thấp: Nhu cầu sinh lý; Nhu cầu an toàn. Ngƣời ta còn gọi đây là nhóm nhu cầu thiếu hụt. + Nhóm nhu cầu cấp cao: Nhu cầu yêu thƣơng và đƣợc thừa nhận; Nhu cầu đƣợc tôn trọng; Nhu cầu phát huy bản ngã. Ngƣời ta còn gọi đây là nhóm nhu cầu phát triển.
Theo Maslow: ở một thời điểm cụ thể chỉ có một nhu cầu chiếm vị trí nổi bật trong hệ thống nhu cầu. Thứ tự từ thấp lên cao của tháp nhu cầu ấy đồng thời cũng là thứ tự thỏa mãn của nó (theo kiểu leo thang). Các nhu cầu càng ở bậc thấp thì càng có vai trò quan trọng hơn và cần đƣợc đáp ứng (khó trì hoãn). Có thể nói: với sự ra đời học thuyết nhu cầu của Maslow đã khởi xƣớng cho một phong trào nghiên cứu mới về nhu cầu của con ngƣời.
Điều này đƣợc chứng minh qua việc sau đó đã có nhiều lý thuyết về nhu cầu của các tác giả khác ra đời. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thuyết 3 nhu cầu của Clayton Alderfer (còn gọi tắt là thuyết ERG) Kế thừa quan điểm của Maslow về bản chất của nhu cầu, Clayton Alderfer đã xây dựng nên lý thuyết nhu cầu của mình. Theo tác giả, con ngƣời có 3 loại nhu cầu chính đó là: + Nhu cầu tồn tại (Existence needs): Ƣớc muốn khỏe mạnh về thân xác và tinh thần, đƣợc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu căn bản để sinh tồn nhƣ các nhu cầu sinh lý, ăn, mặc, ở, đi lại, học hành. và nhu cầu an toàn.
+ Nhu cầu giao tiếp (Relatedness needs): Ƣớc muốn thỏa mãn trong quan hệ với mọi ngƣời. Mỗi ngƣời đều có những ham muốn thiết lập và duy trì các mối quan hệ cá nhân khác nhau. Ƣớc tính một ngƣời thƣờng bỏ ra khoảng phân nửa quỹ thời gian để giao tiếp với các quan hệ mà họ hƣớng tới. + Nhu cầu phát triển (Growth needs): Ƣớc muốn phát triển cá nhân trong cả cuộc sống và công việc.
Các công việc, chuyên môn và cao hơn nữa là sự nghiệp riêng sẽ đảm bảo đáp ứng đáng kể sự thoả mãn của nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân. Điều khác biệt căn bản của học thuyết nhu cầu này so với thuyết nhu cầu của Maslow đó là: Thuyết ERG cho rằng: tại cùng một thời điểm có thể có nhiều nhu cầu ảnh hƣởng đến đời sống tâm lý của con ngƣời. Clayton Alderfer đã chỉ ra rằng thƣờng xuyên có nhiều hơn một nhu cầu có thể ảnh hƣởng và tác động trong cùng một con ngƣời, vào cùng một thời gian. Nếu những nhu cầu ở mức cao không đƣợc đáp ứng đủ thì khao khát thoả mãn những nhu cầu ở mức dƣới (của mô hình) sẽ tăng cao.
Thuyết ERG tỏ ra hợp lý hơn khi giải thích về quá trình lao động của con ngƣời ngày nay. Đó là tại sao ngƣời lao động hay tìm kiếm mức lƣơng cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn ngay cả khi những điều kiện này là tốt và đạt các tiêu chuẩn của thị trƣờng lao động. Khi các nhân viên chƣa cảm thấy thỏa mãn với nhu cầu giao tiếp và nhu cầu phát triển ở hiện tại, họ sẽ tìm cách đƣợc thỏa mãn. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lý thuyết 3 nhu cầu thúc đẩy của David C.
McClelland, nhà Tâm lý học ngƣời Mỹ, đã đề xuất lý thuyết về các nhu cầu thúc đẩy làm việc vào năm 1961. Theo ông, trong quá trình làm việc các cá nhân chịu tác động mạnh mẽ bởi ba nhân tố có tác động qua lại với nhau. Ba nhân tố này còn đƣợc gọi là ba nhu cầu đó là: + Nhu cầu thành đạt (achievement motivation): Đó là nhu cầu đạt đƣợc kết quả cao trong công việc của bản thân. Mỗi ngƣời thƣờng mong muốn hoàn thành những mục tiêu có tính thách thức bằng nỗ lực của chính bản thân mình, thích thành công khi cạnh tranh và mong nhận đƣợc phản hồi về kết quả công việc của mình một cách rõ ràng.
Những ngƣời có nhu cầu thành tích cao có động lực làm việc tốt hơn. Một số đặc tính chung phản ánh những ngƣời có nhu cầu thành tích cao nhƣ: - Lòng mong muốn thực hiện các trách nhiệm cá nhân. - Xu hƣớng tự đặt ra các mục tiêu cao. - Nhu cầu cao về sự phản hồi cụ thể, ngay lập tức.
- Nhanh chóng, sớm làm chủ công việc của họ. + Nhu cầu liên kết (affiliation motivation): Đó là nhu cầu có đƣợc mối quan hệ gần gũi và thân thiện với mọi ngƣời xung quanh. Nhu cầu liên kết làm cho con ngƣời thích hợp tác thay vì cạnh tranh, mong muốn xây dựng các mối quan hệ dựa trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau. + Nhu cầu quyền lực (authority/power motivation): Đó là nhu cầu có quyền lực ở mỗi cá nhân.
Những ngƣời có nhu cầu quyền lực mong muốn tác động, ảnh hƣởng và kiểm soát các nguồn lực và con ngƣời nếu có lợi cho họ. Nhu cầu quyền lực cũng thƣờng xuất hiện ở những ngƣời có nhu cầu thành tích cao. Thông thƣờng mục tiêu đạt thành tích nhằm khẳng định cá nhân và gây ảnh hƣởng, chi phối ngƣời khác. Tuy nhiên, ở đây cũng cho thấy một thực tế rằng, khi đạt thành tích cao không đƣợc cộng đồng ghi nhận và có quyền lực tƣơng xứng thì cá nhân sẽ giảm động lực làm việc, giảm nhu cầu đạt thành tích cao.
Lý thuyết này chỉ ra rằng: khi một nhu cầu nào đó đƣợc đáp ứng thì sẽ tạo ra cho con ngƣời sự thoả mãn. Mặt khác, nhu cầu có tính chu kì và luôn phát triển. Do 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó, khi nhu cầu này đƣợc đáp ứng thì lại nảy sinh các nhu cầu khác ở mỗi con ngƣời. Lý thuyết các nhu cầu thúc đẩy của McClelland khuyến khích ngƣời lao động tham gia vào các hoạt động của tổ chức, nhằm tạo dựng mối quan hệ với đồng nghiệp, tranh thủ sự động viên, hỗ trợ của đồng nghiệp để thực hiện công việc ngày càng khó hơn với sự tham gia của nhiều ngƣời thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Việc tham gia hoạt động của tổ chức cũng tạo điều kiện để ngƣời lao động so sánh, đánh giá cá nhân, tạo động lực vƣơn lên do sự thúc đẩy của nhu cầu về việc đạt thành tích cao hơn so với đồng nghiệp. - Thuyết Kỳ vọng của Victor Vroom Lý thuyết Kỳ vọng đƣợc đề xuất bởi Victor Vroom vào năm 1964, sau đó đƣợc sửa đổi, bổ sung bởi một số học giả khác. Khác với Maslow, Vroom không tập trung nhiều vào nhu cầu, mà chủ yếu tập trung vào kết quả. Maslow nghiên cứu dựa trên mối quan hệ giữa nhu cầu nội tại và nỗ lực tạo ra kết quả nhằm thoả mãn nhu cầu nội tại đó, còn Vroom lại tách biệt giữa nỗ lực (phát sinh từ động lực), hành động và hiệu quả.
Ông cho rằng hành vi và động cơ làm việc của con ngƣời không nhất thiết đƣợc quyết định bởi hiện thực mà nó đƣợc quyết định bởi nhận thức của con ngƣời về những kỳ vọng của họ trong tương lai. Ngƣời lao động hăng say làm việc vì sự kỳ vọng, họ làm việc vì mong muốn đạt đƣợc những kết quả nào đó và mong nhận đƣợc lợi ích cũng nhƣ tạo ra những giá trị nhất định. Lý thuyết này xoay xung quanh ba khái niệm cơ bản: + Sự kỳ vọng: Là niềm tin rằng nỗ lực sẽ dẫn đến kết quả tốt. Niềm tin này ảnh hƣởng bởi các nhân tố nhƣ: - Sự sẵn có của các nguồn lực phù hợp (thời gian, con ngƣời,…).
- Kỹ năng để thực hiện.