Lời mở đầu Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4. Phân tích dữ liệu và kết quả Chƣơng 5.
Ý nghĩa và kết luận 1.6 Tình hình kinh doanh Siêu thị bán lẻ tại Việt Nam Chặng đƣờng 4 năm sau khi gia nhập WTO, ngành bán lẻ Việt Nam đã định vị đƣợc “thân thế” của mình, nằm trong top 15 thị trƣờng bán lẻ hấp dẫn nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Theo thống kê của Bộ Công Thƣơng, năm 2010, doanh thu của ngành bán lẻ Việt Nam đã đạt 77,8 tỷ USD, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 24,5% (Pháp luật, 27/01/2011). Ngành bán lẻ hiện đại VN chỉ chiếm tỷ trọng 20 - 22% so với 55% của Thái Lan, 60% ở Trung Quốc; 60% ở Malaysia. Con số này khiến thị trƣờng bán lẻ trong nƣớc trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài (luocbao.
Năm 2010 đánh dấu bƣớc tiến của các nhà bán lẻ Việt Nam. Có 10 doanh nghiệp lọt vào top 500 nhà bán lẻ châu Á. Kết quả điều tra của Công ty Kiểm toán Grant Thornton Việt Nam cho biết: Thị trƣờng bán lẻ Việt Nam tiếp tục thu hút các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khi có đến 70% nhà đầu tƣ đánh giá bán lẻ là lĩnh vực đầu tƣ hấp dẫn, xếp trên lĩnh vực giáo dục, bất động sản hay y tế. Năm 2011 sẽ là năm bùng nổ của các nhà bán lẻ trong nƣớc, khi kinh tế đang trên đà hồi phục (baomoi.
Đơn cử nhƣ Big C, trong năm 2010 thƣơng hiệu này đã khai trƣơng 5 siêu thị nâng tổng số siêu thị Big C tại Việt Nam lên 14 siêu thị trên toàn quốc. Tƣơng tự, chỉ trong vòng khoảng 2 năm có mặt tại Việt Nam , Tập đoàn Lotte đã sở hữu 2 siêu thị lớn tại Việt Nam và đang quyết liệt săn lùng mặt bằng để thực hiện kế hoạch 30 siêu thị tại Việt Nam cho đến năm 2018. Ở loại hình trung tâm thƣơng mại có Parkson, Metro - bán sỉ. cũng ráo riết khai trƣơng điểm mới để cạnh tranh quyết liệt với các Doanh nghiệp bán lẻ trong nƣớc (Tài chính thế giới, 20-12-2010).
Tính đến hết năm 2010, hệ thống Co-op mart đã có 50 siêu thị ở nhiều tỉnh, thành. Bên cạnh đó, hệ thống Co-op Food cũng len lỏi ở nhiều khu dân cƣ tại TP. Hồ CHÍ MINH. Theo kế hoạch, đến năm 2015, sẽ có 100 siêu thị Co-op trên cả nƣớc và chuỗi cửa hàng Co-op Food cũng sẽ đƣợc mở rộng sang các tỉnh, thành khác chứ không chỉ ở TP.
Hồ CHÍ MINH nhƣ hiện nay. Việc ký kết liên doanh giữa Saigon Co.op và tập đoàn bán lẻ lớn của Singapore NTUC FairPrice nhằm mở chuỗi đại siêu thị tại Việt Nam. Và đại siêu thị đầu tiên trong chuỗi này dự kiến đƣợc bắt đầu hoạt động vào năm 2012 tại TP. Hồ CHÍ MINH.op và Metro Cash & Carry đã khai trƣơng siêu thị thứ 49 và thứ 13 lần lƣợt tại Sóc Trăng và Vũng Tàu.
Tổng Công ty May 10 cũng góp phần hâm nóng thị trƣờng bằng việc khai trƣơng siêu thị thứ 2 tại Hà Nội. Kế hoạch của Tổng Công ty là hoàn thành chuỗi gồm 15 siêu thị trên toàn quốc vào năm 2012 (Thị trƣờng Việt Nam, 30/12/2010). Các sự kiện diễn ra liên tục trong ngành bán lẻ Việt Nam dƣờng nhƣ trùng với kết quả khảo sát mới đây của Công ty Grant Thornton Việt Nam. Cuộc khảo sát đã lấy ý kiến của hơn 200 ngƣời từng đầu tƣ hoặc có quan tâm đến môi trƣờng đầu tƣ tại Việt Nam vào năm 2011.
Kết quả là ngành bán lẻ nhận đƣợc hơn 70% ý kiến phản hồi, tiếp theo là giáo dục (50%) và bất động sản (40%) (Thị trƣờng Việt Nam, 30/12/2010). Những thông tin về tốc độ tăng trƣởng của kênh siêu thị lên đến 30 – 40%/năm cùng với dự báo về tiềm năng phát triển của ngành bán lẻ Việt Nam mạnh nhất ở phân khúc siêu thị khiến nhiều doanh nghiệp tìm cách chen chân (Doanh nhân Sài Gòn, 01/10/2009). Theo kết quả khảo sát của tập đoàn tƣ vấn hàng đầu thế giới AT Kearnay: Năm 2007 Việt Nam là thị trƣờng bán lẻ hấp dẫn thứ tƣ thế giới (Tuổi trẻ, 01/07/07), thị trƣờng bán lẻ Việt Nam đƣợc đánh giá có tiềm năng trên thế giới chỉ đứng sau Ấn Độ và Nga (vnMedia. Báo cáo thƣờng niên về chỉ số phát triển mảng kinh doanh bán lẻ (GRDI) trên toàn cầu, theo đó Việt Nam soán ngôi vị số một của Ấn Độ, trở thành điểm đến hấp dẫn nhất với các nhà đầu tƣ.
Theo đó thị trƣờng bán lẻ Việt Nam xếp vị trí thứ sáu sau các thị trƣờng bán lẻ: Ấn Độ, Nga, Trung Quốc, Tiểu vƣơng quốc Ả rập Thống nhất và Ả rập Xê út. Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2010 (GRDI) của Việt Nam chỉ đạt 52,1 điểm xếp hạng 14/30 thị trƣờng bán lẻ của các nền kinh tế mới nổi hấp dẫn nhất thế giới (DanTri.7 Đặc điểm ngành và khách hàng Siêu thị Siêu thị là dạng cửa hàng tự phục vụ. Hàng hóa ở đây rất đa dạng và đƣợc chọn lọc kĩ hơn so với trong chợ hay cửa hàng tạp phẩm. Loại hình này gọi chung là siêu thị truyền thống vì ngày nay, từ “siêu thị” còn đƣợc chỉ những nơi chỉ kinh doanh một mặt hàng, một chủng loại hàng nào đó mà thôi.
Ví dụ: siêu thị máy tính, siêu thị điện máy, siêu thị điện thoại di động, siêu thị trái cây,… thậm chí còn có siêu thị việc làm nữa (những cách gọi này hay đƣợc dùng tại thành phố Hồ Chí Minh). Siêu thị truyền thống thƣờng đƣợc xây dựng trên diện tích lớn, gần khu dân cƣ để tiện lợi cho khách hàng và đảm bảo doanh thu. Quy mô của siêu thị thì lớn hơn các cửa hàng tạp phẩm (hoặc chợ) và tƣơng đối nhỏ hơn các trung tâm thƣơng mại. Tại siêu thị các sản phẩm đƣợc trình bày trên kệ vừa tầm mắt, và sắp xếp theo một trật tự logic vì thế khách hàng rất dễ dàng tìm kiếm (Theo Bách Khoa toàn thƣ mở Wikipedia).
Trong những năm qua, hình thức kinh doanh siêu thị đã thực sự khẳng định đƣợc vị thế kinh doanh của mình trên thƣơng trƣờng. Ngƣời tiêu dùng ngày càng nhận thức đƣợc những giá trị gia tăng mà siêu thị mang lại: sự tiện lợi, chất lƣợng phục vụ, uy tín sản phẩm, giá cả hợp lý, rõ ràng,. Thay vì tới chợ hay những cửa hàng nhỏ, hàng hóa thật giả lẫn lộn, ngƣời tiêu dùng đã lựa chọn siêu thị bởi họ có cơ hội để so sánh từ giá cho đến mẫu mã, tính năng của nhiều sản phẩm mang thƣơng hiệu khác nhau. Hiện siêu thị đã rất quen thuộc với ngƣời dân Việt Nam và ai cũng có thể trở thành khách hàng của siêu thị.
Ngoài ra, ngƣời tiêu dùng còn thƣờng xuyên đƣợc lợi từ các chƣơng trình khuyến mãi trực tiếp từ các hãng sản xuất cũng nhƣ chƣơng trình khuyến mãi của riêng siêu thị.8 Phân loại siêu thị 1.1 Siêu thị hạng I Ngoài các tiêu chuẩn về kiến trúc hiện đại, kho hàng, kỹ thuật bảo quản, khu vệ sinh, khu giải trí. Các siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau: - Có diện tích kinh doanh từ 5.000m2 trở lên; - Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên; Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là: - Diện tích từ 1.000m2 trở lên; - Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên; 1.2 Siêu thị hạng II Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau: - Có diện tích kinh doanh từ 2.000m2 trở lên; - Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên; Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là: - Diện tích từ 500m2 trở lên; - Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên; 1.3 Siêu thị hạng III Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau: - Có diện tích kinh doanh từ 500m2 trở lên; - Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên; Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là: - Diện tích từ 500m2 trở lên (nhƣ siêu thị tổng hợp); - Có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên; Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ 2.1 Định nghĩa về dịch vụ Nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra những định nghĩa khác nhau về dịch vụ, chẳng hạn nhƣ : Ramaswamy (1996) cho rằng dịch vụ là sự giao dịch kinh doanh diễn ra giữa ngƣời cho (ngƣời cung cấp dịch vụ) và ngƣời nhận (khách hàng) để tạo ra một tác động làm thỏa mãn khách hàng. Dịch vụ là những hành vi, quá trình, và việc thực hiện nhằm mục đích tạo giá trị cho khách hàng, thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Valarie A. Zeithmal và Mary Jo Bitner).
Hay nói rõ hơn, “dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trƣớc, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tƣơng tác với nhau. Mục đích của việc tƣơng tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng nhƣ tạo ra giá trị cho khách hàng” (Bùi Nguyên Hùng). “Dịch vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất ” (Philip Kotler, Quản trị Makerting).
Dịch vụ là sản phẩm vô hình, chúng không đồng nhất và cũng không thể tách rời chúng đƣợc. - Tính vô hình của dịch vụ (intangibility): dịch vụ không thể cân, đo, đếm, tồn trữ, thử nghiệm hoặc kiểm định trƣớc khi mua, để kiểm tra chất lƣợng. Doanh nghiệp cảm thấy rất khó khăn trong việc tìm hiểu khách hàng nhận thức nhƣ thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lƣợng dịch vụ (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang 2003 đã dẫn theo Robinson 1999). Để giảm bớt mức độ không chắc chắn ngƣời mua sẽ tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất lƣợng của dịch vụ.
Họ sẽ suy diễn về chất lƣợng dịch vụ từ địa điểm, con ngƣời, trang thiết bị, tài liệu thông tin, biểu tƣợng,… mà họ thấy. Vì vậy nhiệm vụ của ngƣời cung cấp dịch vụ là “vận dụng những bằng chứng” để “làm cho cái vô hình trở thành hữu hình” (Philip Kotler).