Sự Phát Triển Của Hệ Thống Bán Lẻ Hiện Đại Tại Việt Nam Giai Đoạn 2009-2014

Chuyên khảo phân tích Luận văn ftu sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại tại việt nam giai đoạn 2009 2014, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÁN LẺ

1.1. Lý thuyết chung về bán lẻ

1.2. Khái niệm và bản chất của bán lẻ

1.3. Chức năng và vai trò của bán lẻ

1.4. Phân loại các hình thức bán lẻ

1.5. Giới thiệu về hệ thống bán lẻ hiện đại

1.5.1. Khái niệm về bán lẻ hiện đại

1.5.2. Đặc điểm của hệ thống bán lẻ hiện đại

1.5.3. Các yếu tố tác động đến sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại

1.5.3.1. Nhóm yếu tố bên trong
1.5.3.2. Các yếu tố bên ngoài

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009-2014

2.1. Bối cảnh chung toàn thị trường bán lẻ Việt Nam

2.2. Một số doanh nghiệp bán lẻ nổi bật giai đoạn 2007 đến nay

2.3. Sự phát triển của kênh bán lẻ hiện đại

2.3.1. Tình hình phát triển chung của kênh bán lẻ hiện đại

2.3.2. Thực trạng cạnh tranh giữa các nhà bán lẻ hiện đại trên thị trường Việt Nam

2.3.3. Cửa hàng tiện ích

2.4. Đánh giá thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2009-2014

2.4.1. Đánh giá của ATkearney về thị trường bán lẻ Việt Nam

2.4.2. Những thành công đã đạt được của hệ thống bán lẻ hiện đại

2.4.3. Những hạn chế của thị trường bán lẻ và kênh bán hiện đại

3. CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

3.1. Xu hướng phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại trên thế giới và tại Việt Nam

3.1.1. Sự thay đổi hành vi người tiêu dùng

3.1.2. Xu hướng phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại trên thế giới

3.1.3. Xu hướng phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam

3.2. Quan điểm, mục tiêu phát triển thị trường trong giai đoạn tới

3.2.1. Quan điểm, mục tiêu của Nhà nước

3.2.2. Quan điểm, mục tiêu của doanh nghiệp

3.2.3. Quan điểm của người tiêu dùng

3.3. Một số khuyến nghị nhằm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ở Việt Nam

3.3.1. Các rào cản và khó khăn hệ thống bán lẻ đang gặp phải

3.3.2. Một số kiến nghị tới các cơ quan quản lý để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại

3.3.3. Khuyến nghị về phía nhà cung cấp, nhà sản xuất

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Sự Phát Triển Hệ Thống Bán Lẻ Hiện Đại Tại Việt Nam

Giai đoạn 2009-2014 chứng kiến sự bùng nổ của hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam. Sự phát triển này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng mà còn là kết quả của những chính sách mở cửa thị trường. Các hình thức bán lẻ như siêu thị, cửa hàng tiện ích và trung tâm thương mại đã trở thành những lựa chọn phổ biến cho người tiêu dùng. Theo báo cáo của Nielsen, doanh thu từ bán lẻ đã tăng trưởng mạnh mẽ, cho thấy tiềm năng lớn của thị trường bán lẻ Việt Nam.

1.1. Đặc Điểm Của Hệ Thống Bán Lẻ Hiện Đại

Hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam có những đặc điểm nổi bật như sự đa dạng về sản phẩm và dịch vụ, khả năng phục vụ nhanh chóng và tiện lợi. Các siêu thị và cửa hàng tiện ích không chỉ cung cấp hàng hóa mà còn mang đến trải nghiệm mua sắm tốt hơn cho người tiêu dùng.

1.2. Tác Động Của Công Nghệ Đến Bán Lẻ

Công nghệ đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống phân phối. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý kho, thanh toán điện tử và marketing đã giúp các doanh nghiệp bán lẻ tối ưu hóa quy trình và tăng cường sự hài lòng của khách hàng.

II. Những Thách Thức Trong Sự Phát Triển Bán Lẻ Hiện Đại

Mặc dù có nhiều cơ hội, ngành bán lẻ hiện đại tại Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, cùng với sự thay đổi nhanh chóng trong hành vi tiêu dùng, đã tạo ra áp lực lớn cho các nhà bán lẻ. Theo báo cáo của ATKearney, nhiều doanh nghiệp chưa kịp thích ứng với xu hướng mới, dẫn đến việc mất thị phần.

2.1. Cạnh Tranh Từ Các Doanh Nghiệp Nước Ngoài

Sự gia nhập của các tập đoàn bán lẻ quốc tế đã tạo ra áp lực lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Họ không chỉ cạnh tranh về giá cả mà còn về chất lượng dịch vụ và trải nghiệm mua sắm.

2.2. Thay Đổi Hành Vi Người Tiêu Dùng

Người tiêu dùng ngày càng trở nên thông minh và đòi hỏi cao hơn về chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Việc không nắm bắt kịp thời xu hướng này có thể dẫn đến việc mất khách hàng.

III. Phương Pháp Tăng Trưởng Doanh Thu Bán Lẻ Hiện Đại

Để tăng trưởng doanh thu, các doanh nghiệp bán lẻ cần áp dụng những chiến lược marketing hiệu quả. Việc sử dụng các kênh truyền thông xã hội và quảng cáo trực tuyến đã trở thành một phần không thể thiếu trong chiến lược tiếp cận khách hàng. Theo nghiên cứu của Deloitte, các doanh nghiệp áp dụng công nghệ vào marketing đã ghi nhận sự tăng trưởng doanh thu đáng kể.

3.1. Chiến Lược Marketing Đột Phá

Các chiến lược marketing sáng tạo như khuyến mãi, giảm giá và chương trình khách hàng thân thiết đã giúp thu hút và giữ chân khách hàng. Việc cá nhân hóa trải nghiệm mua sắm cũng là một yếu tố quan trọng.

3.2. Tối Ưu Hóa Kênh Phân Phối

Tối ưu hóa kênh phân phối giúp giảm chi phí và tăng cường khả năng phục vụ khách hàng. Việc kết hợp giữa bán lẻ truyền thống và bán hàng trực tuyến đã mang lại hiệu quả cao cho nhiều doanh nghiệp.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Về Bán Lẻ

Nghiên cứu về thị trường bán lẻ Việt Nam không chỉ mang lại cái nhìn tổng quan mà còn cung cấp những giải pháp thực tiễn cho các doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các mô hình kinh doanh mới và cải tiến quy trình hoạt động có thể giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh.

4.1. Mô Hình Kinh Doanh Mới

Việc áp dụng mô hình kinh doanh mới như bán hàng trực tuyến và dịch vụ giao hàng tận nơi đã giúp nhiều doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu và mở rộng thị trường.

4.2. Cải Tiến Quy Trình Hoạt Động

Cải tiến quy trình hoạt động không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ. Việc áp dụng công nghệ trong quản lý kho và logistics đã mang lại hiệu quả rõ rệt.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Hệ Thống Bán Lẻ Hiện Đại

Tương lai của hệ thống bán lẻ hiện đại tại Việt Nam hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Với sự gia tăng của công nghệ và thay đổi trong hành vi tiêu dùng, các doanh nghiệp cần nhanh chóng thích ứng để không bị tụt lại phía sau. Theo dự báo, doanh thu từ bán lẻ sẽ tiếp tục tăng trưởng, tạo ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư.

5.1. Dự Báo Xu Hướng Phát Triển

Dự báo cho thấy rằng ngành bán lẻ sẽ tiếp tục phát triển với sự gia tăng của các kênh bán hàng trực tuyến và sự chuyển mình của người tiêu dùng. Các doanh nghiệp cần nắm bắt xu hướng này để tối ưu hóa chiến lược kinh doanh.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Doanh Nghiệp

Doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ và cải tiến quy trình để nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc xây dựng thương hiệu mạnh và tạo dựng lòng tin với khách hàng cũng là yếu tố quan trọng trong việc phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận văn ftu sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại tại việt nam giai đoạn 2009 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÁN LẺ 1. Lý thuyết chung về bán lẻ 1. Khái niệm và bản chất của bán lẻ 1. Khái niệm bán lẻ Theo Philip Kotler (2011): Bán lẻ bao gồm tất cả mọi hoạt động trong việc bán hàng hóa dịch vụ trực tiếp cho khách hàng cuối cùng dung cho mục đích cá nhân, phi thương mại của họ.

Theo Michael Levy (2011): Bán lẻ là chuỗi các hoạt động kinh doanh mang lại giá trị cho sản phẩm và dịch vụ bán cho khách hàng để sử dụng cho bản thân hoặc gia đình của họ. Ta có thể nhận thấy sự khác biệt của 2 định nghĩa này một cách rõ ràng. Theo Philip Kotler (2011), ông chỉ đề cập đến những hoạt động trong việc bán hàng hóa dịch vụ mà không nói đến những hoạt động khác ngoài bán hàng. Bên cạnh đó, cần hiểu khái niệm khách hàng cuối cùng không chỉ là người mua hàng hóa, dịch vụ ở các cửa hàng bán lẻ đó.

Còn theo Michael Levy (2011), Bán lẻ được nhìn nhận từ góc độ vai trò chính của nó, chính là làm gia tăng giá trị cho sản phẩm và dịch vụ. Vì vậy, mọi hoạt động nhằm gia tăng giá trị cho sản phẩm, dịch vụ đều nằm trong phạm vi của bán lẻ. Tuy nhiên, trong định nghĩa này, khách hàng chỉ được hiểu là những người mua để sử dụng cho bản thân hoặc gia đình ,chưa thể khái quát được khái niệm “khách hàng cuối cùng” mà Philip Kotler đưa ra. Ngoài ra, còn có nhận định rằng hoạt động phân phối bán lẻ hàng hoá mang bản chất của hoạt động dịch vụ, là hoạt động lao động có tính chất phục vụ và mang tính xã hội của con người.

Theo Danh mục Phân loại tạm thời các sản phẩm chính của Liên Hiệp Quốc (CPC) và Danh mục phân loại các ngành dịch vụ của WTO, lĩnh vực dịch vụ phân phối được định nghĩa bao gồm bốn nhóm dịch vụ chính: Dịch vụ đại lý uỷ quyền, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại (franchising). Những người bán lẻ bán hàng phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình. và các dịch vụ liên quan đến việc kinh doanh của người bán lẻ như chế biến phục vụ cho bán hàng, dịch vụ kho hàng và bãi đỗ xe. “Bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan”.

(Viện nghiên cứu thương mại, 2015) Tuy đã có nhiều định nghĩa “bán lẻ” theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều thể hiện một đặc điểm chung của bán lẻ đó là hoạt động dịch vụ đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng cuối cùng (Tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng của cá nhân hay gia đình), là công đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông để sản phẩm đến với người tiêu dùng. Cơ sở bán lẻ là các hình thức tổ chức kinh doanh dịch vụ bán lẻ cố định, với các loại hình doanh nghiệp thương mại bán lẻ hoặc điểm bán lẻ. Bản chất của bán lẻ Bán lẻ về cơ bản là một loại hình dịch vụ, vì vậy nó mang đầy đủ những bản chất cũng như đặc điểm cơ bản của dịch vụ. Thứ nhất, bán lẻ có tính không mất đi.

Sau khi cung ứng thì dịch vụ bán lẻ không bị mất đi. Thứ hai là tính vô hình. Quá trình hàng hóa dịch vụ được cung ứng từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng không thể nhìn thấy được, chỉ có thể thấy được thay đổi về sự thỏa mãn của người tiêu dùng sau khi sử dụng dịch vụ bán lẻ. Thứ ba là tính không tách rời, quá trình cung ứng là sử dụng dịch vụ diễn ra đồng thời.

Thứ tư là tính không đồng nhất, tức là quá trình cung ứng dịch vụ khác nhau tại mỗi thời gian và không gian khác nhau, giữa mỗi người cung ứng và khách hàng khác nhau. Thứ năm là tính không thể lưu trữ được. Quá trình tiêu dùng và sử dụng gắn liền với nhau nên không xuất hiện thời gian lưu kho như hàng hóa, vì vậy không xảy ra quá trình lưu trữ. Tuy vậy, những đặc tính riêng có của ngành dịch vụ bán lẻ lại tạo ra những ngoại lệ cho những tính chất của nó.

Đó là quá trình mua hàng ở siêu thị là quá trình có thể nhìn thấy được, việc cung ứng hàng hóa và sử dụng hàng hóa mua ở cách cửa hàng tạp hóa, siêu thị có thể tác rời, hay việc lưu kho hàng hóa của siêu thị. Tuy nhiên, những điều này không làm thay đổi bản chất dịch vụ của ngành phân phối bán lẻ. Những đặc điểm riêng có của bán lẻ là: Người bán lẻ là người tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên nhất với người tiêu dùng cuối cùng nên họ nắm bắt nhu cầu, thị hiếu và thói quen mua sắm của khách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Do vậy người bán lẻ có khả năng thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng hơn so với các hoạt động bán hàng trung gian khác.

Tính đa dạng trong cung ứng hàng hóa dịch vụ là một trong những đặc điểm nổi bật của bán lẻ. chính điều này đòi hỏi người bán hàng phải hiểu rõ những hàng hóa dịch vụ mà mình cung ứng để giúp khách hàng lựa chọn và từ đó có thể bán được nhiều hàng hóa cung như tăng khả năng an toàn trong kinh doanh. Chức năng và vai trò của bán lẻ 1. Chức năng của bán lẻ Ta có thể thấy rõ ràng nếu như hàng hóa được mua trực tiếp từ nhà sản xuất sẽ có giả rẻ hơn khi mua tại các trung gian.

Tuy nhiên, chính bán lẻ là quá trình tạo ra giá trị tăng thêm cho hàng hóa, dịch vụ chính bởi tính chất đa dạng, vì thế có thể thỏa mãn nhiều mong muốn của khách hàng tại một thời gian, địa điểm. Cụ thể, bán lẻ sẽ cũng cấp sự đa dạng cho khách hàng. Về cơ bản, một siêu thị có thể có 20.000 sản phẩm của hơn 500 nhãn hàng khác nhau (Quyết định 1371/2004/QĐ-BTM). Nếu các doanh nghiệp sản xuất tự tổ chức bán hàng cho khách hàng cuối cùng thì mỗi địa điểm chỉ có thể có một vài sản phẩm của một nhãn hàng, vậy thì để mua nhiều sản phẩm ta lại phải đến những cơ sở khác nhau, điều này hiển nhiên sẽ gia tăng chi phí cho việc đi lại và những chi phí liên quan, nhiều khi lớn hơn cả phần lợi nhuận của doanh nghiệp bán lẻ khi bán món hàng đó cho ta.

Thứ nhất, bán lẻ cho phép chia nhỏ các kiện hàng. Nhà bán lẻ thực hiện việc chia nhỏ (breaking bulk) những kiện hàng lớn từ nhà sản xuất hoặc nhà bán buôn để bán cho những người tiêu dùng ở dạng nhỏ lẻ hơn. Bằng thao tác này, nhà bán lẻ không những giúp giảm được chi phí vận chuyển từ phía người sản xuất mà còn đưa hàng hóa đến cho người tiêu dùng một cách hiệu quả hơn. Thứ hai, bán lẻ đảm bảo sự sẵn có cho hàng hóa, dịch vụ.

Bằng việc bán và lưu giữ những hàng hóa dịch vụ, nhu yếu phẩm cần thiết cho người tiêu dùng, nhà bán lẻ sẽ đảm bảo cho việc sẵn có cho nhu cầu bất ngờ phát sinh của người tiêu dùng trong khả năng lưu kho, dự trữ của mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Thứ ba, bán lẻ sẽ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ người tiêu dùng. Ví dụ như nhà bán lẻ có thể hỗ trợ người tiêu dùng dùng thử một số sản phẩm trước khi mua, cung cấp những thông tin về cách sử dụng của sản phẩm. Vai trò của bán lẻ Thứ nhất, dịch vụ phân phối bán lẻ đóng góp đáng kể vào GDP của mỗi nền kinh tế.

Theo thống kê của Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương, 2015), ngành bán lẻ Việt Nam đã đóng góp từ 13% đến 15% vào GDP, đang tạo công ăn việc làm cho khoảng 6,3 triệu lao động. Năm 2013, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 2.618 ngàn tỷ đồng (tương đương khoảng 125 tỷ USD), tăng 12,6% so với năm 2012. 7 tháng đầu năm 2014 mặc dù tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của cả nước vẫn đạt khoảng 1.655 ngàn tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2013. Thứ hai, dịch vụ phân phối bán lẻ là chìa khóa, là mắt xích cuối cùng và quan trọng bậc nhất của chuỗi cung ứng hàng hóa dịch vụ.

Nhà sản Nhà bán Nhà bán Người tiêu xuất sỉ lẻ dùng Hình 1.1: Vị trí nhà bán lẻ trong chuỗi cung ứng hàng hóa (Nguồn: Theo Michael Levy, 2011) Thông qua nhà bán lẻ, nhà sản xuất sẽ giảm thiểu được chi phí khi đưa hàng hóa tận tay người tiêu dùng. Mặt khác, người tiêu dùng thông qua nhà bán lẻ sẽ được thỏa mãn nhu cầu với nhiều loại hàng hóa khác nhau. Thứ ba, dịch vụ phân phối bán lẻ không những góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn cải thiện sức cạnh tranh của quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Phân loại các hình thức bán lẻ Theo Philip Kotler, dựa vào những yếu tố số lượng dịch vụ, sự đa dạng sản phẩm, giá cả mà dịch vụ bán lẻ được chia thành các loại hình khác nhau.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Xét về phương diện số lượng dịch vụ, có thể chia thành các loại hình bán lẻ như sau (Philip Kotler, 2011): - Cửa hàng tự phục vụ: Khách hàng sẽ tự lựa chọn, tìm kiếm các hàng hóa dịch vụ mà họ mong muốn mà không có sự trợ giúp của nhân viên. Chính điều này sẽ làm giảm giá cả của hàng hóa dịch vụ mà họ đang tìm kiếm tuy nhiên thời gian ở trong các cửa hàng sẽ lớn hơn, vì vậy loại hình bán lẻ này phù hợp với các hàng tiêu dùng hằng ngày. - Cửa hàng giới hạn phục vụ: Loại hình này sẽ cung cấp những nhân viên hỗ trợ khách hàng chủ yếu về thông tin sản phẩm, ngoài ra sẽ không có sự trợ giúp nào khác, khách hàng vẫn phải tự phục vụ nhu cầu mua sắm của mình. Giá cả ở những cửa hàng này có cao hơn ở hình thức tự phục vụ.

- Cửa hàng bán lẻ đầy đủ dịch vụ: Những hàng hóa ở đây thường là những mặt hàng có chất lượng cao dành cho những khách hàng có thu nhập cao, có nhu cầu được hỗ trợ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ