Luận Văn Thạc Sĩ: Sự Phát Triển Công Ty Than Đèo Nai Quảng Ninh Trong Thời Kỳ Đổi Mới (1986-2006)

Luận văn thạc sĩ phân tích sự phát triển của công ty than Đèo Nai Quảng Ninh trong thời kỳ đổi mới 1986-2006, nêu bật những thách thức và thành tựu.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

115
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH CÔNG TY THAN ĐÈO NAI TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1960 - 1985)

1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội

1.2. Quá trình phát triển của Công ty than Đèo Nai trước năm 1960

1.2.1. Sự hình thành và phát triển của khu vực than Quảng Ninh

1.2.2. Sự thành lập Công ty than Đèo Nai

1.3. Tình hình đội ngũ công nhân Công ty than Đèo Nai

1.4. Cuộc sống của người công nhân mỏ

1.4.1. Cuộc sống của công nhân mỏ trước năm 1954

1.4.2. Cuộc sống của công nhân mỏ từ năm 1954 đến năm 1986

1.5. Phong trào đấu tranh của công nhân mỏ trước năm 1954

1.6. Tình hình hoạt động của Công ty than Đèo Nai trước đổi mới

1.6.1. Vài nét chung về ngành than Việt Nam

1.6.2. Về hình thức tổ chức kinh doanh của Công ty than Đèo Nai

1.7. Tình hình chung của Công ty than

1.7.1. Quy trình công nghệ khai thác than của Công ty than Đèo Nai

1.7.2. Về cơ cấu tổ chức

1.7.3. Về máy móc kỹ thuật

1.7.4. Về trình độ công nhân Công ty Đèo Nai

1.7.5. Nguyên nhân của tình trạng trên

2. CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY THAN ĐÈO NAI (1986 - 2006)

2.1. Thời kỳ ổn định và bước đầu xây dựng (1986 - 1995)

2.1.1. Bối cảnh quốc tế

2.1.2. Bối cảnh trong nước

2.1.3. Tình hình chung của Công ty than Đèo Nai

2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức
2.1.3.2. Trình độ công nhân
2.1.3.3. Đời sống của người công nhân mỏ

2.2. Thời kỳ khởi sắc của Công ty than Đèo Nai

2.2.1. Tình hình chung của Công ty than Đèo Nai

2.2.1.1. Hình thức kinh doanh của Công ty than Đèo Nai
2.2.1.2. Về cơ cấu lãnh đạo
2.2.1.3. Trình độ của công nhân mỏ
2.2.1.4. Sản lượng khai thác than trong thời kỳ từ năm 1995 đến 2006

2.2.2. Các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội tại Công ty than Đèo Nai

2.2.2.1. Công đoàn cơ sở của Công ty than Đèo Nai
2.2.2.2. Tổ chức Đoàn thanh niên của Công ty than Đèo Nai
2.2.2.3. Vai trò của các đoàn thể của Công ty than Đèo Nai

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HÀNH TRÌNH LỊCH SỬ CỦA CÔNG TY THAN ĐÈO NAI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 - 2006)

3.1. Hành trình đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức doanh nghiệp

3.2. Không ngừng đổi mới trang thiết bị nâng cao năng lực sản xuất

3.3. Không ngừng chăm lo cải thiện đời sống của người lao động

3.4. Công ty than Đèo Nai đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế địa phương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về sự phát triển Công ty Than Đèo Nai 1986 2006

Công ty Than Đèo Nai, một trong những đơn vị chủ chốt trong ngành công nghiệp khai thác than tại Quảng Ninh, đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng từ năm 1986 đến 2006. Thời kỳ này đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của công ty trong bối cảnh đổi mới kinh tế của Việt Nam. Sự phát triển này không chỉ thể hiện qua sản lượng khai thác mà còn qua việc cải thiện đời sống của công nhân và ứng dụng công nghệ mới trong khai thác than.

1.1. Bối cảnh lịch sử và kinh tế của Công ty Than Đèo Nai

Trong giai đoạn 1986-2006, Công ty Than Đèo Nai đã phải đối mặt với nhiều thách thức từ việc chuyển đổi cơ chế quản lý đến việc áp dụng công nghệ mới. Bối cảnh kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển của ngành than, nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn cho công ty.

1.2. Những thành tựu nổi bật trong giai đoạn phát triển

Công ty Than Đèo Nai đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong giai đoạn này, bao gồm việc tăng sản lượng khai thác than, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân và nâng cao hiệu quả sản xuất. Những thành tựu này không chỉ góp phần vào sự phát triển của công ty mà còn thúc đẩy kinh tế địa phương.

II. Những thách thức trong quá trình phát triển Công ty Than Đèo Nai

Mặc dù có nhiều thành tựu, Công ty Than Đèo Nai cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển. Các vấn đề như ô nhiễm môi trường, điều kiện làm việc không đảm bảo và sự cạnh tranh từ các công ty khác đã ảnh hưởng đến hoạt động của công ty.

2.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường trong khai thác than

Hoạt động khai thác than tại Công ty Than Đèo Nai đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường. Ô nhiễm không khí và nước là những vấn đề nghiêm trọng mà công ty phải đối mặt, đòi hỏi các biện pháp khắc phục kịp thời.

2.2. Điều kiện làm việc và đời sống công nhân

Đời sống của công nhân tại Công ty Than Đèo Nai trong giai đoạn này vẫn còn nhiều khó khăn. Mặc dù có những cải thiện, nhưng điều kiện làm việc và mức lương vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu của họ.

III. Phương pháp cải cách và đổi mới tại Công ty Than Đèo Nai

Để vượt qua những thách thức, Công ty Than Đèo Nai đã áp dụng nhiều phương pháp cải cách và đổi mới. Việc đầu tư vào công nghệ khai thác hiện đại và cải thiện quản lý là những bước đi quan trọng trong quá trình này.

3.1. Đầu tư công nghệ khai thác than hiện đại

Công ty đã tiến hành đầu tư vào các công nghệ khai thác than tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu tác động đến môi trường. Việc áp dụng công nghệ mới không chỉ giúp tăng sản lượng mà còn cải thiện an toàn lao động.

3.2. Cải cách quản lý và tổ chức

Công ty Than Đèo Nai đã thực hiện nhiều cải cách trong quản lý và tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc tái cấu trúc bộ máy quản lý đã giúp công ty hoạt động linh hoạt hơn và đáp ứng nhanh chóng với các thay đổi của thị trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Công ty Than Đèo Nai

Kết quả nghiên cứu cho thấy Công ty Than Đèo Nai đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của địa phương. Sự phát triển của công ty không chỉ tạo ra việc làm mà còn góp phần vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng và đời sống của người dân.

4.1. Tác động đến kinh tế địa phương

Công ty Than Đèo Nai đã tạo ra hàng ngàn việc làm cho người dân địa phương, góp phần vào sự phát triển kinh tế của thị xã Cẩm Phả. Sự phát triển của công ty cũng thúc đẩy các ngành dịch vụ và thương mại tại khu vực.

4.2. Cải thiện đời sống công nhân

Nhờ vào những cải cách và đầu tư, đời sống của công nhân tại Công ty Than Đèo Nai đã được cải thiện đáng kể. Các chương trình phúc lợi và hỗ trợ đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của Công ty Than Đèo Nai

Sự phát triển của Công ty Than Đèo Nai trong giai đoạn 1986-2006 đã để lại nhiều bài học quý giá cho ngành công nghiệp khai thác than tại Việt Nam. Tương lai của công ty phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi của thị trường và môi trường.

5.1. Bài học từ quá trình phát triển

Quá trình phát triển của Công ty Than Đèo Nai đã cho thấy tầm quan trọng của việc đổi mới và cải cách trong ngành công nghiệp khai thác than. Những bài học này có thể áp dụng cho các công ty khác trong ngành.

5.2. Triển vọng phát triển bền vững

Để đảm bảo sự phát triển bền vững, Công ty Than Đèo Nai cần tiếp tục đầu tư vào công nghệ và cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân. Việc bảo vệ môi trường cũng cần được đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển của công ty.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh sự phát triển của công ty than đèo nai quảng ninh trong thời kỳ đổi mới 1986 2006

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Khái quát về tình hình Công ty than Đèo Nai trước thời kỳ đổi mới (1960 - 1985) Chương II: Sự phát triển của Công ty than Đèo Nai (1986 - 2006) Chương III: Một số nhận xét về hành trình lịch sử của Công ty than Đèo Nai trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2006) 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH CÔNG TY THAN ĐÈO NAI TRƢỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1960 - 1985) 1. Điều kiện tự nhiên và xã hội Than ở Đèo Nai đã được khai thác từ trước năm 1954, thuộc Công ty than Bắc Kỳ do người Pháp quản lý. Năm 1960 Công ty than Đèo Nai chính thức được thành lập theo quyết định của Bộ công nghiệp. Công ty than Đèo Nai khai thác than ở bể than Đông Bắc, nằm ở phía Đông Hòn Gai - Cẩm Phả, trên bờ Vịnh Bái Tử Long.

Diện tích khu mỏ của Công ty là 9 km2, phía Đông giáp với Công ty than Cọc Sáu, phía Bắc và phía Đông Bắc giáp với khu mỏ Công ty Cao Sơn, phía Tây và phía Tây Nam giáp với Công ty than Thống Nhất, phía Nam giáp với quốc lộ 18A, cách 5 km về phái Tây là trung tâm thị xã Cẩm Phả. Diện tích khu mỏ được giới hạn bởi toạ độ: X - 25000 ÷ 27400 Y - 71000 ÷ 73400 Ngoài những đặc điểm về địa lý trên Công ty than Đèo Nai vừa nằm sát quốc lộ 18A, vừa nằm sát biển, vị trí này rất thuận lợi cho việc vận chuyển than ra cảng Cửa Ông và vận chuyÓn than ra cảng Công ty để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Công ty than Đèo Nai là doanh nghiệp sản xuất theo công nghệ khai thác than lộ thiên, địa hình khai thác chủ yếu là các gương tầng khai thác thác từ phía Tây Nam và phía Tây Bắc. Địa hình nguyên thuỷ còn sót lại là phần rất nhỏ, đỉnh cao nhất là + 419,6 m ở phía Tây Bắc, điểm thấp nhất là - 31,2 m ở phía Đông, địa hình thấp dần từ Đông sang Tây.

Công ty than Đèo Nai nằm trong vùng Cẩm Phả với địa hình một bên là đồi núi, một bên là biển, nên hoạt động của công ty chịu nhiều ảnh hưởng của khí hậu vùng Đông Bắc. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 nhiệt đô trung bình thay đổi từ 230C đến 320C, vào tháng 6, tháng 7 nhiệt độ lên tới 320C đến 330C. Lượng mưa trung bình từ 1106 mm đến 2800 mm, cá biệt có khi lên tới 3000 mm.

Độ ẩm không khí cao, trung bình từ 75 ÷ 85%. Do điều kiện thời tiết như vậy nên mùa mưa công tác sản xuất thường bị đình trệ, sản lượng không cao. Vµo mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa giảm, thời tiết khô hanh là điều kiện để công ty tập trung sản xuất tăng sản lượng bù đắp cho sản lượng của những tháng mùa mưa. Tuy vậy, mùa khô thời tiết rét, nhiệt độ có thể xuống thấp từ 70C ÷ 80C cũng có ảnh hưởng phần nào tới quá trrình sản xuất.

Quảng Ninh là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của tổ quốc với diện tích là 6099 km2, dân số là 1097,8 nghìn người, mật độ dân số là 180 người/km2 , gồm một thành phố, ba thị xã và mười huyện. Là nơi có trữ lượng than lớn nhất của cả nước vì vậy ngành kinh tế chính ở đây là công nghiệp khai mỏ. Bên cạnh đó ngành du lịch ở Quảng Ninh cũng rất phát triển với thắng cảnh ở Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Nhưng có một vấn đề đặt ra cho tỉnh Quảng Ninh nói chung và các ngành kinh tế nói riêng là muốn phát triển kinh tế du lịch thì đòi hỏi ban lãnh đạo tỉnh phải có những giải pháp cụ thể đối với việc ô nhiễm môi trường, giảm ảnh hưởng đến ngành du lịch.

Đây là vấn đề cần thiết nhưng vẫn chưa được giải quyết triệt để. Với lãnh thổ trải dài từ Đông Triều cho đến tận Móng Cái, vì vậy thành phần dân tộc ở đây cũng rất phong phú: dân tộc Tày, Thái, Mường, Sán Dìu vv. Vì là khu tập trung nhiều mỏ khai thác than của cả nước cho nên cấu trúc xã hội ở đây cũng mất cân đối, tỉ lệ nam giới nhiều hơn nữ giới điều này sẽ dẫn đến hậu quả là nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo thống kê của ủy ban điều tra dân số thì Quảng Ninh là nơi có số lượng người nghiện hút lớn nhất Việt Nam (năm 1999).

Bên cạnh ngành khai thác than, ở đây còn có nhiều dịch vụ khác xuất hiện như các công ty may mặc, nhà máy xi măng, ngành chế biến dầu ăn ở cảng Cái Lân, cửa khẩu Móng Cái cũng là trung tâm buôn bán của cả nước. Nói tóm lại Quảng Ninh có cấu trúc kinh tế đa dạng, nhiều ngành nghề với khai mỏ là ngành chính. Vì có thành phần dân cư đa dạng cho nên trình độ văn hóa giữa các vùng không đồng đều, những nơi như thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, thị xã Móng Cái, thị xã Uông Bí với điều kiện kinh tế khá phát triển, vì vậy tỉ lệ trẻ em đến trường chiếm khoảng 95%. Nhưng ở các huyện còn lại số lượng trẻ em đến được đi học khá thấp, chiếm khoảng 45%, như huyện Tiên Yên, Ba Chẽ.(1) Điều này đã phản ánh sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực.

Về tôn giáo, người dân ở đây theo hai đạo chính là đạo Phật và đạo Thiên chúa giáo. Khoảng 25% dân số theo hai đạo này, hầu hết những người theo đạo Phật có độ tuổi từ 60 trở lên. Với điều kiện tự nhiên và xã hội như trên vùng mỏ Quảng Ninh có rất nhiều thuận lợi cho sự phát triển các ngành nghề kinh tế, bên cạnh đó cũng sẽ có nhiều khó khăn mà buộc ban lãnh đạo tỉnh phải có chính sách biện pháp kịp thời để giải quyết, đưa tỉnh Quảng Ninh ngày một phát triển hơn. Quá trình phát triển của Công ty than Đèo Nai trƣớc năm 1960 2.1 Sự hình thành và phát triển của khu vực công nghiệp than Quảng Ninh Sau khi bị thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, bằng hòa ước 1864, nhà Nguyễn buộc phải mở một số cửa sông, biển ở miền Bắc cho thương nhân ngoại quốc, chủ yếu là người Pháp, trong đó có cửa sông, biển Quảng Yên, Hải Ninh.

Đến năm 1874, nhà Nguyễn lại kí với Pháp một hòa ước mới, trong đó có một điều khoản là phải mở thêm cảng Hòn Gai cho (1) Thống kê của ủy ban dân số Quảng Ninh năm 2004 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tàu thuyền ngoại quốc vào buôn bán. Trên cảng này có đặt Sở Thương chính hỗn hợp Pháp - Việt để quản lý tàu thuyền ra vào cảng. Trong khi đó, từ giữa thế kỷ XIX đặc biệt là sau cuộc chiến tranh nha phiến, nước Anh đã có một thế lực lớn tại Trung Quốc. Sau khi đánh hơi thấy nguồn lợi than đá dồi dào tại khu mỏ Quảng Ninh và vị trí chiến lược cả về kinh tế lẫn quân sự của nó, đế quốc Anh đã xúi giục nhà Thanh buộc nhà Nguyễn phải để cho chúng có quyền lợi tại khu này.

Chính vì vậy cuối tháng 11-1883, nhà Thanh đã phái người của Thương cục tới Huế đòi nhà Nguyễn cho khai mỏ than Đông Triều, thuê mỏ than Hòn Gai, chiếm lấy khu mỏ Quảng ninh. Nhưng chúng đã không thực hiện được âm mưu đó. Ngoài ra, người Đức cũng muốn qua Trung Quốc gây ảnh hưởng tới Bắc Kì để vào khu mỏ Quảng Ninh. Chính người Đức đã xin nhà Nguyễn cho mở một số công trường khai thác than, hùn vốn với người Pháp để xây dựng cảng vạn Hoa trên cái Bầu (Kế Bào).

Vậy là từ nửa cuối thế kỷ XIX trở đi, bên cạnh các công trường khai thác than của người Việt và người Trung Quốc đã có từ trước, lại xuất hiện thêm một số công trường của người Trung Quốc mới, người Pháp và người Đức. Trong khi triều đình nhà Nguyễn chưa thấy được tầm quan trọng của khu mỏ thì tư bản nhiều nước đã ra sức tranh giành ảnh hưởng để hòng làm chủ khu mỏ. Hoạt động ngày càng nhộn nhịp của tàu bè ngoại quốc tại Quảng Ninh sau hòa ước 1874 đã làm cho người Pháp lo lắng về sự cạnh tranh của người nước ngoài đối với họ, đặc biệt là các công ty của Anh dưới danh nghĩa Trung Quốc. Hơn nữa vào cuối thế kỷ XIX, Pháp ráo riết chuẩn bị xâm Bắc Kỳ lần thứ hai nên chúng ra sức tăng cường các hoạt động kinh tế và do thám tại khu vực Quảng Ninh, vì than đá ở đây vào loại tốt nhất thế giới.

Nooc-man, một sĩ quan Anh nói: “Nếu các chiến hạm Pháp được các mỏ than Bắc Kỳ tiếp tế, thì họ có thể ngăn đường Trung Hoa của người Anh, Diến Điện và Can-quýt-ta sẽ bị phong tỏa.” (1) (1) Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Quảng Ninh, Dư địa chí Quảng Ninh, tập 1, NXBGD, 2000. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cuối năm 1882 thực dân Pháp xâm lược Bắc Kỳ lần hai, nhà Thanh coi đây là một nguy cơ mất Bắc Kỳ và vùng mỏ than Quảng Ninh vào tay người Pháp. Đồng thời họ cũng coi đây là một cơ hợi để xâm lược Bắc Kỳ mà không bị dư luận phản đối. Họ giương cờ “giúp nhà Nguyễn chống Pháp” để hòng thực hiện dã tâm tranh giành quyền lợi của người Pháp.

Đối với tư bản Pháp thì việc chiếm khu mỏ Quảng Ninh là một trong những âm mưu hàng đầu trong việc xâm lược Bắc Kỳ, đặc biệt là sau khi Pháp bại trận trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ (1870-1871) và bị Đức chiếm nhiều mỏ than quan trọng ở miền Bắc, nền công nghiệp Pháp lâm vào tình trạng khủng hoảng vì thiếu than. Liên tiếp trong các năm 1880-1882, Pháp đã buộc nhà Nguyễn cho chúng cử các đoàn kĩ thuật đến kháo sát thăm dò khu mỏ. Năm 1882, Kỹ sư Phuyt-sơ đã mang than Hà Lầm về Pari phân tích. Thấy than tốt điều kiện khai thác chuyên chở lại dễ dàng, giới chủ tư bản Pháp rất sung sướng và tràn đầy hi vọng vào nguồn lợi này.

Đó chính là một trong những nguyên nhân trực tiếp để chúng chiếm Quảng Ninh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ