Chương 1: Bối cảnh xây dựng sự nghiệp của nhà Tây Sơn ở phủ Quy Nhơn (1771-1802) (18 trang). Chương 2: Xây dựng và bảo vệ sự nghiệp của nhà Tây Sơn ở phủ Quy Nhơn (1771-1802) (28 trang). Chương 3: Nhận xét về sự nghiệp của nhà Tây Sơn ở phủ Quy Nhơn (1771-1802) (24 trang). BỐI CẢNH XÂY DỰNG SỰ NGHIỆP CỦA NHÀ TÂY SƠN Ở PHỦ QUY NHƠN (1771-1802) 1.
Bối cảnh xã hội Đại Việt nửa sau thế kỷ XVIII 1. Tình hình chính trị Từ giữa thế kỷ XVIII, bộ máy chính quyền phong kiến hai Đàng đều rơi vào suy yếu, trở thành bộ máy ăn bám, ra sức bóc lột sức người, sức của của nhân dân. Ở Đàng ngoài, mâu thuẫn giữa vua Lê với chúa Trịnh ngày càng sâu sắc, cơ chế song song tồn tại hai chính quyền vua Lê - chúa Trịnh từng bước bị phá vỡ. Chúa Trịnh ngày càng lấn át vai trò của vua Lê, coi vua Lê không ra gì.
Từ khi Trịnh Sâm lên nối ngôi chúa (năm 1767), quan hệ giữa chúa Trịnh và vua Lê không còn như trước nữa. Vua Lê Hiển Tông lâm vào thế hoàn toàn bị vô hiệu hóa, ngay cả con của mình cũng không bảo vệ nổi. Mâu thuẫn giữa vua Lê và chúa Trịnh đến cực điểm, nhưng vua Lê không làm gì được, chỉ lo giữ lấy mạng sống để duy trì hương hỏa dòng họ Lê. Bộ máy chính quyền Đàng Ngoài vốn cồng kềnh, với số lượng quan lại đông đảo, đến giữa thế kỷ XVIII, bị chế độ “mua quan, bán tước” lũng đoạn.
Từ năm 1750, mỗi người nộp 3 quan được vào dự kỳ thi hương, không cần thông qua khảo hạch. Chính vì thế mà “người làm ruộng, người đi buôn, cho chí người hàng thịt, người bán vặt, cũng đều làm đơn nộp tiền xin đi thi cả. Ngày vào thi đông đến nỗi dày xéo lên nhau, có ngưới chết ở cửa trường. Những người thực tài 10 phần đậu một, hạng “sính đồ 3 quan” thì “đầy cả thiên hạ”[7; tr.
Từ thời chúa Trịnh Cương (1709-1729), Trịnh Giang (1729-1740), các chúa càng lún sâu vào cuộc sống ăn chơi, sa đọa. “Giang chơi bời xa xỉ, phóng túng, của cải ngày một hao mòn, bán quan, mua tước không việc gì không làm… Giang ngày càng tối tăm mê hoặc, sắp đặt công việc lẫn lộn, sai lầm…”[47; tr. Chúa như vậy, bọn quan lại cao cấp liên kết bè phái mưu lợi riêng. Những kẻ hoạn quan Hoàng Công Phụ, Đỗ Thế Giai, Thượng thư Lê Hy…đã từng “làm mưa”, “làm gió” một thời, gây bao tai họa.
Ví như cuối đời Trịnh Giang, Hoàng Công Phụ cùng thân đảng lộng hành, nhiều đại thần 12 bị đuổi, bị giết hại… Thời Trịnh Sâm (1767-1782) bộ máy chính quyền Đàng Ngoài mục nát đến cực độ. Tình trạng rối ren, lục đục của giới cầm quyền trở nên nghiêm trọng khi Trịnh Sâm lên nối ngôi chúa. Trịnh Sâm là người thích ăn chơi hưởng lạc, chuyên quyền, tàn bạo, lòng dạ hẹp hòi, giết người vô tội… Sau khi lên ngôi, bắt giam em ruột là Trịnh Đệ, giết tướng Phạm Huy Cơ và đồng đảng, vì mưu cướp ngôi; sau đó vì ghen ghét tài năng, đức độ và địa vị đã bức hại Thái tử Lê Duy Vĩ, lập Lê Duy Cận con thứ ba của vua Lê Hiển Tông lên làm Thái tử. Từ năm 1770, sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật, Trịnh Sâm càng tỏ ra kiêu căng, tự mãn, ăn chơi hưởng lạc.
Do ăn chơi trụy lạc, mới 40 tuổi Trịnh Sâm đã lâm bệnh nặng. Đặng Thị Huệ và người tình là Trần Đình Bảo định đoạt mọi việc. Con trai trưởng Trịnh Khải bị phế truất Thế tử, Trịnh Cán (con Đặng Thị Huệ) lên thay. Năm 1782, Trịnh Sâm chết, Trịnh Cán chưa đầy 6 tuổi được đưa lên ngôi chúa… Quân Tam phủ giết chết Trần Đình Bảo, phế truất Trịnh Cán, đưa Trịnh Khải lên thay.
Từ đó lính Tam phủ thừa sức lộng hành, ra sức cướp bóc, phá phách…mà không hề kiêng sợ, nhân dân gọi đó là “loạn kiêu binh”. Điều này đánh dấu sự tan rã của thế lực họ Trịnh, gây nên sự đối lập giữa nhân dân và quân sĩ. Quan lại địa phương lợi dụng chính quyền Trung ương suy yếu, mặc sức đục nước béo cò, vơ vét bóc lột nhân dân, ủy quyền thế, tự do vu oan giá họa, làm cho đời sống dân nghèo thường xuyên bị đe dọa. Các vụ kiện tụng ở địa phương không sao giải quyết được: “Bọn cường hào giải quyết ở trong hương đảng, gian xảo, nhiều mưu mẹo, biến báo dối trá trăm khoanh.
lấn lướt, đè nén người nghèo khó… Hễ điều gì không vừa thì chúng vu oan giá họa, lôi đến cửa công”[72; tr. Đàng Trong, bộ máy chính quyền suy yếu không kém, năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương, cho xây dựng kinh đô ở Phú Xuân với hệ thống lâu đài, cung điện quy mô đồ sộ. Quan lại cao cấp cũng đua nhau xây dựng dinh thự, tiêu phí vô cùng tốn kém. Trong những lâu đài dinh thự ấy, chúa Nguyễn cùng tộc thuộc, quan lại sống rất xa hoa, phung phí, tổ 13 chức yến tiệc linh đình.
Họ “coi vàng như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ hết mức” [15; tr. Trong vòng 7 năm (1746-1752), chính quyền thu vào trên 5.404 lạng bạc các loại và hơn 2 triệu quan tiền [31; tr. Trong thực tế nhân dân phải đóng góp gấp hai, ba lần số đó, bởi sự đục khoét của quan lại địa phương. Mặt khác xung đột biên giới tiêu tốn của chính quyền không ít tiền của.
Ví như, năm 1772, chúa Nguyễn huy động 10.000 quân thủy bộ để đối phó với quân Xiêm ở vùng biên giới cực nam [48; tr. Năm 1765, Nguyễn Phúc Khoát chết, quyền thần Trương Phúc Loan phế Thái tử Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, đưa Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên nối ngôi chúa. Phúc Loan tự xưng là Quốc phó, chuyên quyền, quyết định mọi việc. Cùng với việc thao túng về chính trị, Trương Phúc Loan còn nắm giữ nguồn tài chính của xứ Đàng Trong.
Một mình ăn ngụ lộc 5 nguồn thuế lớn: nguồn Sái và Thu Bồn (ở Quảng Nam), Trà Vân và Trà Đinh (ở Bình Định), Đồng Hương (Khánh Hòa), mỗi năm thu vào 4 đến 5 vạn quan. Làm Cai tàu vụ và các công việc khác cũng thu vào 4 đến 5 vạn quan [15; tr. Trương Phúc Loan là người tiêu biểu nhất cho sự tham lam, bạo ngược, suy thoái cho tầng lớp quan lại Đàng Trong. Kể từ khi Nguyễn Cư Trinh mất (1767), trong triều không còn ai ngăn cản những việc làm càn rỡ của Phúc Loan: “Phúc Loan làm nhiều việc phiền nhiễu, chẳng còn kiêng nể gì.
Mua quan, bán tước, ăn tiền tha tội, hình phạt phiền nhiễu, thuế má nặng nề, thần dân cực khổ và căm giận” [72; tr.317]; “ngày càng kiêu rông, tham lam tàn nhẫn, làm bậy không sợ ai, người đời gọi là “Trương Tần Cối” [49; tr. Những người thân cận của Trương Phúc Loan nắm giữ mọi chức vụ quan trọng trong chính quyền. Những người tâm huyết có năng lực, ngăn cản Trương Phúc Loan đều bị Phúc Loan tìm cách ám hại. Ngoài Trương Phúc Loan, Nguyễn Phúc Thuần còn có hai cận thần là Nguyễn Noãn và Nguyễn Nghiễm.
Nguyễn Noãn nghiện rượu, suốt ngày say rượu, việc đời không biết gì cả. Nguyễn Nghiễm thì hiếu sắc, lấy 120 vợ lẽ, trong nhà chứa đầy châu báu, mắm muối, hồ tiêu [15; tr. Ở địa phương, nhất là các làng xã, bọn lý dịch và cường hào cũng mặc 14 sức hoành hành. Chế độ mua quan, bán tước, làm cho bộ máy quan lại thêm đông đúc.
Những người có tiền có thể nộp một khoản tiền nhất định dưới hình thức lễ vật như tiền thưởng lễ (lễ dâng lên Chúa), tiền nội lễ (lễ dâng vào cơ quan Nội Phủ), lễ trình diện, lễ nhận lĩnh bằng. là được bổ nhiệm quan chức theo thứ bậc khác nhau. Năm Ất Tỵ (1725), họ Nguyễn trước định lệ thu các lễ, Tướng thần phải nộp tiền thưởng lễ 35 quan, tiền nội lễ 7 quan, tiền lĩnh bằng và tiền ngụ lộc dâng các quan là 7 quan; xã trưởng phải nộp tiền thượng lễ 30 quan, tiền nội lễ 6 quan, tiền lĩnh bằng và tiền ngụ lộc dâng các quan 5 quan [15; tr. Như vậy để được làm Tướng thần chỉ cần nộp 49 quan, làm Xã trưởng nộp 41 quan.
“Do đó mọi người tranh nhau nộp tiền lĩnh bằng, có chỗ có đến 16 hay 17 tướng thần, hơn 20 xã trưởng cùng làm việc” [15; tr. Do vậy, số lượng quan lại rất đông. Nửa cuối thế kỷ XVIII, bộ máy chính quyền Đàng Trong đã trở thành một bộ máy ăn bám vô cùng nặng nề, một gánh nặng đè lên đầu nhân dân người lao động. Tình hình kinh tế Sang thế kỷ XVIII, nạn kiêm tính ruộng đất trở thành một hiện tượng phổ biến và nghiêm trọng trong xã hội Đàng ngoài, làm cho đa số ruộng đất rơi vào tay các nhà hào phú, địa chủ, quan lại, trong khi đó dân nghèo không có mảnh đất cắm dùi.
Năm 1740, Trịnh Doanh có ý định mô phỏng theo phép “tỉnh điền” của nhà Chu (Trung Quốc) để thực thi. Thực chất của phép tỉnh điền này, chúa Trịnh muốn địa chủ trả lại ruộng đất cho nhà nước và đem chia đều cho nhân dân để thực hiện bình quân giàu nghèo, chia đều thuế dịch. Tuy nhiên chính sách này không thể thực hiện được. Điều này nó phản ánh tính chất nghiêm trọng của vấn đề ruộng đất trong xã hội Đàng ngoài.
Thể hiện sự bất lực của nhà Chúa trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất. Nửa sau thế kỷ XVIII, nạn kiêm tính và ẩn lậu ruộng đất diễn ra khá trầm trọng. Năm 1773, Lê Quý Đôn và Phạm Huy Đĩnh khám xét tình hình ruộng đất ở trấn Sơn Nam, đã phát giác hơn 9.000 mẫu ruộng lậu thuế [49; tr. Trước tình hình đó, Trịnh Sâm phải ban lệnh: “cấm nhân dân không được tố cáo ruộng ẩn lậu; cấm nhà quyền thế không được chiếm bậy ruộng của dân” [72; tr.
Không chỉ mất ruộng đất, người dân Đàng Ngoài còn chịu chế độ tô 15 thuế nặng nề, phiền tạp. Ngoài thuế ruộng, thuế đinh theo định mức, người dân còn phải đóng thuế điệu (thuế tạp dịch), như: thuế 03 lễ (lễ thượng tiến, thường tân, liết liệu); thuế 07 lễ (thượng tiến, thường tân, tiết liệu, cung tiến, kỵ thời, sinh nhật, chính đàn); thuế tiền cửa đình; hay chia các sản phẩm thủ công ra làm 08 loại để đánh thuế: kim (bạc đồn, kẽm, sắt); mộc; thủy (các loại tôm cá, nước mắm, sò huyết); hỏa (than đá, than gỗ, củi cây, củi bó); thổ (diêm tiêu, ngói); vật dụng (rượu, mật mía, mật ong, dầu thắp, tơ, vải các loại. Công tác trị thủy, thủy lợi không được chính quyền Lê- Trịnh quan tâm thích đáng.