Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG VIÊN CHỨC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Những vấn đề chung về viên chức 1. Khái niệm viên chức Viên chức là công dân Việt Nam. Được tuyển dụng theo vị trí việc làm; làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc, mỗi chức danh nghề nghiệp được phân theo các hạng với các điều kiện, xếp lương khác nhau.
Thông thường, các chức danh hiện nay sẽ được chia thành 4 hạng: Hạng I, hạng II, hạng III và hạng IV. Trong đó: Vị trí việc làm của viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập là công việc hoặc nhiệm vụ của viên chức được sắp xếp đúng với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng đề án vị trí việc làm của từng đơn vị; là căn cứ để xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện công tác tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập căn cứ tại Điều 7 [3]. Phân loại viên chức 1. Theo chức trách, nhiệm vụ, viên chức Quy định tại Điều 3 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 Chính phủ phân loại viên chức theo chức trách, nhiệm vụ, viên chức được phân loại như sau: - Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý; - Viên chức không giữ chức vụ quản lý là người chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập.
9 Phân loại viên chức theo chức trách, nhiệm vụ, viên chức từ các quy định trên viên chức quản lý phải là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý trong cơ quan, chịu trách nhiệm về công việc theo chức vụ và hưởng phụ cấp chức vụ trong cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập. Theo trình độ đào tạo Theo trình độ đào tạo, viên chức được phân loại như sau: Điều 3 [2] Viên chức không còn được phân loại theo vị trí việc làm và các hạng nữa mà thay vào đó là theo chức trách, nhiệm vụ được giao và căn cứ vào trình độ được đào tạo. Điều kiện, tiêu chuẩn của viên chức Điều kiện, tiêu chuẩn của viên chức được quy định tại Điều 22 Luật Viên chức số: 58/2010/QH12: - Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam. - Từ đủ 18 tuổi trở lên.
Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật (theo khoản 2, Điều 5 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP). - Có lý lịch rõ ràng. - Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm. - Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ.
- Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn vị sự nghiệp công lập xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của viên chức 1. Quyền của viên chức Quyền của viên chức về hoạt động nghề nghiệp được quy định tại Điều 11 Luật Viên chức số: 58/2010/QH12 Được pháp luật bảo vệ trong hoạt động nghề nghiệp. - Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, 10 nghiệp vụ.
- Được bảo đảm trang bị, thiết bị và các điều kiện làm việc. - Được cung cấp thông tin liên quan đến công việc hoặc nhiệm vụ được giao. - Được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm vụ được giao. - Được quyền từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật.
- Được hưởng các quyền khác về hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. Quyền của viên chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương được quy định tại Điều 12 Luật Viên chức số: 58/2010/QH12: - Được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi trong trường hợp làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm việc trong ngành nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm, lĩnh vực sự nghiệp đặc thù. - Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và chế độ khác theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập. - Được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.
Quyền của viên chức về nghỉ ngơi được quy định tại Điều 13 Luật Viên chức số: 58/2010/QH12: - Được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động. Do yêu cầu công việc, viên chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì được thanh toán một khoản tiền cho những ngày không nghỉ. - Viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc trường hợp đặc biệt khác, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ phép 11 của 02 năm để nghỉ một lần; nếu gộp số ngày nghỉ phép của 03 năm để nghỉ một lần thì phải được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập. - Đối với lĩnh vực sự nghiệp đặc thù, viên chức được nghỉ việc và hưởng lương theo quy định của pháp luật.
- Được nghỉ không hưởng lương trong trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập. Quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định được quy định tại Điều 14 Luật Viên chức số: 58/2010/QH12: - Được hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. - Được ký hợp đồng vụ, việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà pháp luật không cấm nhưng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập. - Được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Nghĩa vụ của viên chức Nghĩa vụ chung của viên chức được quy định tại Điều 16 Luật Viên chức số: 58/2010/QH12: - Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước. - Có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. - Có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp; thực hiện đúng các quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập. - Bảo vệ bí mật Nhà nước; giữ gìn và bảo vệ của công, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản được giao.
12 - Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức. Viên chức phải luôn thực hiện đúng theo nội quy của cơ quan, luôn học hỏi, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức đúng chuẩn mực. Những vấn đề chung về sử dụng viên chức 1. Khái niệm sử dụng viên chức Sử dụng viên chức được giải thích là “phương tiện để phục vụ nhu cầu, mục đích”.
Sử dụng theo cách hiểu thông thường là việc chủ thể xác định nhu cầu, mục đích của đối tượng sử dụng (người, vật, sự việc, hiện tượng…. Trên cơ sở đó có thể hiểu sử dụng viên chức là một loại hình sử dụng nhân sự để thực hiện bố trí, sắp xếp các vị trí, phát huy tối đa năng lực làm việc của viên chức nhằm đạt hiệu quả trong công việc được giao với mục tiêu đảm bảo đủ số lượng, chất lượng đáp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị đã đặt ra. Nguyên tắc sử dụng viên chức Nguyên tắc đăng ký dự tuyển. Khi thực hiện công tác tuyển dụng viên chức, thì cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng phải đăng thông báo tuyển dụng.
Thực hiện công khai để mọi người có thể tiếp cận được một cách dễ dàng, để bảo đảm tính công khai, minh bạch trong tuyển dụng viên chức thì đòi hỏi tất cả các khâu trong quá trình tuyển dụng từ việc xây dựng nhu cầu, kế hoạch tuyển dụng, thông báo tuyển dụng đến tổ chức ôn thi, tổ chức thi/xét tuyển, thông báo kết quả tuyển dụng tại cơ quan, đơn vị. Đây là những quy định đảm bảo quyền được thông tin của cá nhân theo quy định của Hiến pháp, là cơ sở quan trọng nhằm thực hiện, cụ thể hóa nguyên tắc công khai, minh bạch trong tuyển dụng viên chức. Bản chất khách quan của việc tuyển dụng viên chức là tìm được những người phù hợp với công việc, với mong muốn, nhu cầu của đơn vị sự nghiệp công lập, chống tiêu cực trong tuyển dụng. 13 Cho đến nay, pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn chưa có giải thích cặn kẽ như thế nào được coi là tuyển dụng công bằng, khách quan, giả sử cùng ứng tuyển vào một vị trí việc làm nhưng đối tượng đăng ký dự tuyển có thể ở các trình độ khác nhau: cao đẳng, đại học hoặc cùng ở trình độ tương đương nhưng hệ đào tạo là chính quy hoặc tại chức thì việc đơn vị sự nghiệp công lập chỉ tuyển dụng trình độ đại học hệ chính quy và chỉ tuyển dụng giới tính nam có được coi là công bằng hay không? Nguyên tắc bảo đảm tính cạnh tranh Để bảo đảm tính cạnh tranh trong tuyển dụng viên chức thì số lượng người đăng ký dự tuyển cần phải nhiều hơn so với số lượng viên chức cần được tuyển dụng.
Do đó các quy định của pháp luật càng công khai, minh bạch bao nhiêu thì càng tuyển chọn được đúng người bấy nhiêu. Bảo đảm tính cạnh tranh trong tuyển dụng không những lựa chọn được đúng đối tượng cần tuyển mà còn giúp nâng cao uy tín, vị thế của đơn vị sự nghiệp công lập.