Nghiên cứu sử dụng thuốc & tuân thủ điều trị tăng huyết áp ngoại trú tại Bắc Sơn

Phân tích thực trạng sử dụng thuốc và tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú. Luận văn dược sĩ thực hiện tại Bắc Sơn năm 2020.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ Chuyên khoa cấp I

2020

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tầm quan trọng của tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Tuân thủ điều trị tăng huyết áp là một yếu tố quyết định thành công trong quản lý bệnh lý tim mạch. Theo các hướng dẫn của WHO và ESC/ESH 2013, tuân thủ sử dụng thuốc không chỉ giúp kiểm soát huyết áp mục tiêu mà còn ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy thận. Nghiên cứu từ Trường Đại học Dược Hà Nội cho thấy bệnh nhân ngoại trú có tỷ lệ tuân thủ điều trị còn thấp, dẫn đến kiểm soát huyết áp kém. Việc hiểu rõ tầm quan trọng của sử dụng thuốc đều đặn và các yếu tố ảnh hưởng là cơ sở để cải thiện kết quả điều trị.

1.1. Định nghĩa tuân thủ sử dụng thuốc

Tuân thủ sử dụng thuốc được định nghĩa là mức độ bệnh nhân thực hiện đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ về liều lượng, tần suất và thời gian sử dụng thuốc. Đây là quá trình phối hợp tích cực giữa bệnh nhân và nhân viên y tế. Tuân thủ tốt có nghĩa là bệnh nhân uống thuốc đúng theo đơn kê đơn, không bỏ liều hoặc thay đổi liều tùy ý.

1.2. Ảnh hưởng của tuân thủ đến kiểm soát huyết áp

Khi bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt, huyết áp được kiểm soát ổn định, đạt mục tiêu huyết áp (dưới 140/90 mmHg). Ngược lại, không tuân thủ sử dụng thuốc dẫn đến huyết áp cao, tăng nguy cơ tim mạch. Các nghiên cứu chứng minh rằng tuân thủ tăng 10% có thể giảm 6-7% nguy cơ biến chứng tim mạch.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị

Tuân thủ sử dụng thuốc bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố phức tạp, bao gồm đặc điểm bệnh nhân, đặc điểm thuốc và các yếu tố xã hội-kinh tế. Nghiên cứu tại Trung tâm Y tế huyện Bắc Sơn năm 2020 cho thấy độ tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh tăng huyết áp và sự hiểu biết về bệnh là những yếu tố chính ảnh hưởng. Bênh nhân cao tuổi, có bệnh mắc kèm (đái tháo đường, bệnh thận mãn) thường có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn. Ngoài ra, tác dụng không mong muốn của thuốc, chi phí điều trị và khó khăn tiếp cận dịch vụ y tế cũng là những rào cản quan trọng.

2.1. Yếu tố liên quan đến bệnh nhân

Các yếu tố cá nhân như độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và kiến thức về bệnh ảnh hưởng lớn đến tuân thủ sử dụng thuốc. Bệnh nhân cao tuổi có khả năng quên thuốc cao hơn. Bệnh nhân nữ thường tuân thủ tốt hơn nam giới. Kiến thức không đầy đủ về tăng huyết áp và nguy hiểm của nó là rào cản lớn.

2.2. Yếu tố liên quan đến thuốc và điều trị

Sử dụng thuốc liên tục, liều lượng nhiều, tác dụng không mong muốn như mệt mỏi, ho, chóng mặt làm bệnh nhân nản lòng. Phác đồ điều trị phức tạp với nhiều loại thuốc, thời gian sử dụng dài cũng giảm tuân thủ điều trị. Chi phí mua thuốc cao ảnh hưởng đến khả năng mua thuốc liên tục của bệnh nhân.

III. Phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị

Để đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc, các chuyên gia sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Bộ câu hỏi Morisky 8 tiêu chí là công cụ được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong nghiên cứu tại Trường Đại học Dược Hà Nội. Phương pháp này đánh giá thông qua 8 câu hỏi về hành vi tuân thủ điều trị của bệnh nhân, cho phép xếp loại mức độ tuân thủ thành ba nhóm: tuân thủ tốt, tuân thủ vừa phải và tuân thủ kém. Ngoài ra, các phương pháp khác như đếm viên thuốc còn lại, kiểm tra huyết áp mục tiêu và phỏng vấn cũng được áp dụng để đánh giá tổng hợp.

3.1. Bộ câu hỏi Morisky 8 tiêu chí

Bộ câu hỏi Morisky gồm 8 câu, mỗi câu được trả lời "có" hoặc "không". Điểm số từ 0-8, trong đó điểm cao hơn cho thấy tuân thủ sử dụng thuốc tốt hơn. Bệnh nhân được phân loại: tuân thủ tốt (điểm 8), tuân thủ trung bình (6-7 điểm) và tuân thủ kém (dưới 6 điểm). Công cụ này dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian và có độ chính xác cao.

3.2. Các phương pháp đánh giá khác

Đánh giá tuân thủ cũng thông qua đếm viên thuốc còn lại, kiểm tra huyết áp phòng khám liệu có đạt mục tiêu huyết áp hay không. Phỏng vấn bệnh nhân về các thách thức trong tuân thủ điều trị, bệnh nhân mắc kèm, tác dụng không mong muốn cũng cung cấp thông tin quý báu cho đánh giá toàn diện.

IV. Chiến lược cải thiện tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Để nâng cao tuân thủ sử dụng thuốc và kiểm soát huyết áp hiệu quả, cần áp dụng các chiến lược toàn diện. Giáo dục bệnh nhân về tăng huyết áp, các yếu tố nguy cơ tim mạch và tác dụng của điều trị là nền tảng quan trọng. Đơn giản hóa phác đồ điều trị, sử dụng thuốc kết hợp (một viên có chứa nhiều thành phần) giúp tăng tuân thủ. Theo dõi định kỳ, tư vấn về lối sống (giảm muối, tập thể dục, kiểm soát cân nặng) và hỗ trợ từ bác sĩ, dược sĩ là những can thiệp hiệu quả để bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn và đạt mục tiêu huyết áp.

4.1. Giáo dục và tư vấn bệnh nhân

Giáo dục bệnh nhân về tăng huyết áp, các yếu tố nguy cơ, biến chứng và lợi ích của tuân thủ điều trị rất quan trọng. Giải thích rõ ràng về sử dụng thuốc đúng cách, thời gian, liều lượng giúp bệnh nhân hiểu rõ. Tư vấn về lối sống lành mạnh như giảm muối, tập thể dục, kiểm soát cân nặng BMI hỗ trợ kiểm soát huyết áp hiệu quả.

4.2. Hỗ trợ từ nhân viên y tế

Theo dõi định kỳ bệnh nhân, kiểm tra huyết áp mục tiêu, đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc bằng bộ câu hỏi Morisky hoặc phương pháp khác. Giải quyết kịp thời tác dụng không mong muốn, điều chỉnh phác đồ khi cần thiết. Xây dựng mối quan hệ tin tưởng, cung cấp hỗ trợ tâm lý giúp bệnh nhân cảm thấy được quan tâm, từ đó tuân thủ điều trị tốt hơn.

21/12/2025
Dương thanh hòa phân tích tình hình sử dụng thuốc tăng huyết áp và tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị ngoại trú trung tâm y tế huyện bắc sơn năm 2020 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, tăng huyết áp đã trở thành bệnh lý phổ biến và là nguy cơ gây tử vong hàng đầu trên thế giới, chính vì vậy một thách thức lớn đối với ngành y tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Bệnh THA được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” vì trong nhiều trường hợp mặc dù không có dấu hiệu cảnh báo nào, nhưng khi xuất hiện triệu chứng thì bệnh nhân đã có nhiều biến chứng nặng, ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 1,5 tỷ người trên thế giới mắc tăng huyết áp và có tới 9,4 triệu người mỗi năm trên toàn thế giới tử vong do nguyên nhân trực tiếp là tăng huyết áp [6]. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc tăng huyết áp đang có xu hướng tăng dần.

Năm 2002, tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở người trưởng thành là 16,9%; đến năm 2008 con số này tăng lên 25,1%. Theo khảo sát mới nhất năm 2015 của Hội tim mạch Việt Nam, tỷ lệ người trưởng thành mắc tăng huyết áp tại nước ta lên tới 47,3% [15]. Đáng lo ngại tăng huyết áp là bệnh dễ dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm và là nguyên nhân khiến 7 triệu người trên thế giới tử vong mỗi năm [4]. Bệnh lý tăng huyết áp đang là gánh nặng lớn gia tăng trên toàn quốc ở người trưởng thành, chủ yếu nhất là tăng huyết áp giai đoạn 1.

Bệnh tăng huyết áp rất cao và có xu hướng tăng rất nhanh không chỉ ở các nước có nền kinh tế phát triển mà ở cả các nước đang phát triển. Các nghiên cứu về dịch tễ học tăng huyết áp ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đang có xu hướng tăng nhanh khi nền kinh tế ngày càng phát triển [1]. Một trong những nguyên nhân chính khiến tỷ lệ bệnh nhân không đạt huyết áp mục tiêu còn cao là điều trị tăng huyết áp cần phải thực hiện, tuân thủ theo phác đồ điều trị một cách liên tục, lâu dài. Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới chỉ ra tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp tuân thủ sử dụng thuốc dao động từ 50% – 70%.

Các yếu tố có thể ảnh hưởng tới tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân được xác định bao gồm: tuổi, thời gian điều trị, mức độ phức tạp của phác đồ… Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ giữa tuân thủ sử dụng thuốc và kiểm soát huyết áp mục tiêu 1 trên bệnh nhân tăng huyết áp. Việc tiến hành các nghiên cứu liên quan đến tuân thủ sử dụng thuốc giúp chỉ ra thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao tuân thủ sử dụng thuốc trên bệnh nhân. Đứng trước tình hình gia tăng nhanh chóng và những biến chứng nặng nề của bệnh tăng huyết áp, cuối năm 2008 chương trình phòng chống THA được phê duyệt và trở thành chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010. Tuy nhiên đến cuối năm 2010 mới được triển khai tại Trung tâm Y tế huyện Bắc Sơn.

Trung tâm Y tế huyện Bắc Sơn là một huyện miền núi, là cửa ngõ giao thương kinh tế giữa hai tỉnh Lạng Sơn và Thái Nguyên, có tốc độ phát triển kinh tế khá nhanh trong những năm gần đây song song với sự phát triển về kinh tế bệnh tăng huyết áp cũng gia tăng. Trung tâm Y tế huyện Bắc Sơn đang quản lý một số lượng lớn bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú. Tuy nhiên hiện nay chưa có nghiên cứu nào liên quan đến phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp và tuân thủ điều trị trên bệnh nhân tăng huyết áp và đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ sử dụng thuốc trên bệnh nhân tăng huyết áp được tiến hành tại đơn vị. Xuất phát từ thực tế kể trên, để góp phần nâng cao chất lượng sử dụng thuốc tôi thực hiện đề tài: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc tăng huyết áp và tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Bắc Sơn năm 2020” với 03 mục tiêu: 1.

Phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị huyết áp cho bệnh nhân ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Bắc Sơn. Đánh giá tuân thủ điều trị trên bệnh nhân tăng huyết áp trong mẫu nghiên cứu thông qua bộ câu hỏi tự điền Morisky, mối liên quan giữa một số yếu tố đến việc tuân thủ điều trị ngoại trú tăng huyết áp. Đại cương về tăng huyết áp 1. Định nghĩa Theo Hội Tim Mạch Việt Nam và Phân hội tăng huyết áp Việt Nam năm 2018.

Tăng huyết áp (THA) được định nghĩa là khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg. Định nghĩa này được áp dụng cho người ≥ 18 tuổi, huyết áp được đo lúc ngồi ít nhất 2 lần mỗi lần khám và ít nhất 2 lần khám khác nhau [2], [15], [9]. Nguyên nhân Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân. Nguyên nhân của THA có thể được phát hiện thông qua khai thác tiền sử, khám lâm sàng và các kết quả cận lâm sàng thường quy.

Các nguyên nhân thường gặp của THA thứ phát bao gồm [4], [6]: - Bệnh thận cấp hoặc mạn tính: viêm cầu thận cấp/mạn, viêm kẽ thận, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nước, suy thận; Hẹp động mạch thận; U tủy thượng thận (Pheocromocytome); Cường Aldosteron tiên phát (Hội chứng Conn); Hội chứng Cushing; Bệnh tuyến giáp/cận giáp, tuyến yên. - Do thuốc hoặc liên quan đến thuốc (kháng viêm không steroid, thuốc tránh thai, corticoid, cam thảo, hoạt chất giống giao cảm trong thuốc cảm/thuốc nhỏ mũi…). - Nguyên nhân khác liên quan đến bệnh tăng huyết áp: Hẹp eo động mạch chủ; Bệnh Takayasu; Nhiễm độc thai nghén; Ngừng thở khi ngủ; Yếu tố tâm thần [4], [6]. Dịch tễ bệnh tăng huyết áp 1.

Trên thế giới: Toàn thế giới có khoảng 1 tỷ người tăng HA [24]. Theo điều tra của NHANES trong 5 năm từ 1999 – 2004 tỷ lệ THA tại Mỹ tăng từ 27 – 29% và một cuộc khảo sát tương tự từ năm 2004 – 2007 tỷ lệ THA 47% ở người lớn ≥ 55 tuổi và 3 sẽ tăng lên 56% ở những người có độ tuổi từ 75 – 85 tuổi. Các biến chứng THA không kiểm soát được sẽ dẫn tới các bệnh suy tim, đột quỵ, bệnh động mạch vành, suy thận và bệnh mạch máu ngoại vi [4]. Tỷ lệ mắc tăng HA tại một số quốc gia/nhóm quốc gia như sau: Tại Hoa Kỳ: 50 triệu người tăng HA (trên 300 triệu); các nước phát triển: 20-25%; các nước đang phát triển: 11-15%.

Tại Việt Nam: Tại Việt Nam, năm 1960, tỷ lệ THA là khoảng 1%, năm 1982 là 1,9%, năm 1992 con số là 11,9% đến năm 2009 tỷ lệ THA ở người lớn là 25,4% [15]. Theo thống kê năm 2018 của Hội tim mạch học Việt Nam, trên 5.454 người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc mắc THA. Kết quả cụ thể, 52,8% người có huyết áp bình thường, 47,2% người bị THA, trong đó có 39,1% không được phát hiện THA, 7,2% người bị THA nhưng không điều trị và có 69% bị THA nhưng chưa kiểm soát được [4]. Lạng Sơn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam.

Trong những năm gần đây, kinh tế Lạng Sơn ngày càng phát triển, thể hiện vai trò là một tỉnh biên giới phía Bắc phát triển mạnh về kinh tế có đường biên giới giao thương với Trung Quốc. Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật năm 2019 cả tỉnh Lạng Sơn trên 30 nghìn người mắc bệnh tăng huyết áp. Tại huyện Bắc Sơn, trên 2000 người mắc bệnh tăng huyết áp được theo dõi, quản lý hồ sơ tại phòng khám huyết áp vào cuối năm 2019. Phân độ tăng huyết áp Hiện tại có nhiều tài liệu hướng dẫn phân độ THA theo chỉ số HA khác nhau.

Ở đây chúng tôi lựa chọn phân độ THA theo khuyến cáo của Hiệp hội tim mạch Việt Nam 2018 [9] , tăng huyết áp được chia theo rất nhiều cách khác nhau. Phân độ THA theo khuyến cáo của Hội TM học Việt Nam 2018 [9] Phân loại HA Tâm thu HA Tâm trương HA Tối ưu < 120 Và < 80 HA Bình thường 120 – 129 Và/hoặc 80 – 84 HA Bình thường cao 130 – 139 Và/hoặc 85 – 89 THA độ 1 140 – 159 Và/hoặc 90 – 99 THA độ 2 160 – 179 Và/hoặc 100 – 109 THA độ 3 ≥ 180 Và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và < 90 Tiền tăng huyết áp: kết hợp HA bình thường và bình thường cao, nghĩa là HATT từ 120 – 139 mmHg và HATTr từ 80 – 89 mmHg. Khi HATT và HATTr nằm hai mức độ khác nhau, chọn mức độ cao hơn đã phân loại. THA tâm thu đơn độc cũng được đánh giá theo mức độ 1, 2 hay 3 theo giá trị của HATT nếu HATTr <90 mmHg.

Áp lực mạch đập (hiệu số HATT và HATTr): tối ưu là 40 mmHg, nếu trên 61 mmHg có thể xem là một yếu tố tiên lượng nặng cho bệnh nhân. Chẩn đoán tăng huyết áp Dựa vào đo HA chính xác bằng đo HA tại phòng khám và HA ngoài phòng khám (HA tại nhà, HA liên tục), khai thác tiền sử cá nhân và tiền sử gia đình, khám thực thể và các xét nghiệm cận lâm sàng nhằm xác định nguyên nhân THA thứ phát hay THA tiên phát, đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch, tổn thương cơ quan đích, và bệnh cảnh lâm sàng đi kèm để phân tầng nguy cơ [9]. Huyết áp lưu động cung cấp thông tin nhiều hơn HA đo tại nhà hoặc phòng khám, ví dụ, HA 24 giờ gồm cả HA trung bình ban ngày (thường từ 7 - 22 giờ) và giá trị ban đêm và mức dao động HA [15]. Tự đo HA tại nhà được khuyến cáo nhằm áp dụng: Cung cấp nhiều thông tin cho quyết định của bác sỹ và cải thiện gắn kết bệnh nhân vào chế độ điều trị.

Một số thể tăng huyết áp [9]. HA phòng khám (mmHg) HATT <140 HATT ≥140 và HATTr < 90 hoặc HATTr ≥ 90 HATT< 135 HA bình HA tại nhà hoặc THA “áo choàng trắng” hoặc HATTr < 85 thường HA liên tục ban HATT ≥ 135 ngày (mmHg) THA ẩn dấu THA thật sự hoặc HATTr ≥ 85 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ