CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 1. Cơ sở lý luận về nguồn vốn ODA 1. Lịch sử phát triển ODA trên thế giới Ngày 14 tháng 12 năm 1960, 20 nước châu Âu đã chính thức ký hiệp định tổ chức kinh tế và phát triển. Hiệp định này chính thức có hiệu lực từ năm 1961 và sau đó có thêm 4 nước là Nhật Bản, Niudilân, Phần Lan và Australia.
Sau đó, khái niệm về một chính sách viện trợ giúp các nước đang phát triển phục hồi nền kinh tế đã ra đời với tên gọi: Viện trợ phát triển chính thức (Official development assistance-ODA). Khái niệm về ODA Theo khái niệm của Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC) thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) thì hỗ trợ phát triển chính thức (Offical Development Assistance - ODA) là các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản viện trợ có hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho Chính phủ và nhân dân các nước đang và chậm phát triển, đảm bảo 2 nguyên tắc sau: (1) ODA được cấp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và công bằng của các nước đang phát triển và đây phải là mục đích chính của ODA. (2) ODA phải thể hiện sự ưu đãi, cụ thể phải bao hàm ít nhất 25% viện trợ không hoàn lại. Chính phủ Nhật Bản đưa ra khái niệm “ Một loại viện trợ muốn là ODA phải có đủ 3 yếu tố cấu thành: + Do chính phủ cơ quan đại diện cấp + Có mục đích góp phần phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nước tiếp nhận + Ưu đãi phải đạt trên 25% trong đó ưu đãi là một chỉ số hợp từ 3 yếu tố: lãi suất, thời hạn trả nợ, thời gian đáo hạn trong tương quan so sánh với các yếu tố tương tự của ngân hàng thương mại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chính phủ Việt Nam quy định tại điều I quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức- ban hành kèm theo nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04- 05/2000: “ Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong quy chế này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ, bao gồm: A, Chính phủ nước ngoài B, Các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia Hình thức cung cấp ODA bao gồm: A, ODA không hoàn lại B, ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại ít nhất 25% Phương thức cung cấp ODA bao gồm: A, Hỗ trợ cán cân thanh toán B, Hỗ trợ chương trình C, Hỗ trợ dự án WB đưa ra khái niệm ODA bao gồm cả viện trợ đa phương và song phương, nhấn mạnh tới khía cạnh tài chính của ODA mà không đề cập tới mục đích của ODA là gì.
Ngoài ra ODA còn có các điều kiện ưu đãi có thể là: lãi suất thấp ( dưới 3%/năm), thời gian ân hạn dài hoặc thời gian trả nợ (30-40 năm). Nghị định 87CP của chính phủ việt nam quy định về nguồn vốn ODA là sự hợp tác phát triển giữa nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam với một hay nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế. Hình thức của sự hợp tác có thể là hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ theo chương trình, hỗ trợ theo kỹ thuật hoặc theo dự án. Nguồn gốc ODA Thời nguyên thủy, xã hội chưa hình thành nên nhà nước, giữa các bộ lạc đã có sự hỗ trợ nhau về mặt vật chất.
Khi một bộ lạc thiếu thốn sẽ được bộ lạc khác giúp đỡ. Đầu tiên sự giúp đỡ này còn vô tư, về sau nó mang sắc thái “vay trả”, bên cho vay đặt ra một số điều kiện buộc bên đi vay phải tuân theo. Thời nay, xã hội ngày càng phát triển làm hố sâu ngăn cách giữa các quốc gia ngày càng lớn. Các nước nghèo bên cạnh việc huy động nguồn vốn tích lũy trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nước vẫn cần phải có sự hỗ trợ từ phía bên ngoài.Chính vì thế mà nhu cầu vay mượn giữa các quốc gia ngày càng tăng lên, phức tạp hơn.
Trên thế giới, việc cung cấp ODA thực chất đã được tiến hành từ nhiều thập kỉ trước đây, bắt đầu từ kế hoạch Masan của Mĩ viện trợ cho các nước Tây Âu nhằm khôi phục kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ 2. Thời gian này, các nước công nghiệp phát triển đã thỏa thuận trợ giúp các nước đang phát triển dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi. Tiếp đó hội nghị Côlômbô năm 1955 hình thành những ý tưởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển. Ngày 14/12/1960, tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển ra đời tại Paris bao gồm 20 thành viên ban đầu tập hợp lại cùng hợp tác phát triển.
Tổ chức này đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc trợ giúp các nước đang và chậm phát triển. Trong khuôn khổ hợp tác và phát triển, các nước thành viên OECD đã lập ra ủy ban chuyên môn, trong đó có ủy ban hỗ trợ phát triển chuyên trách giúp đỡ các nước đang và chậm phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả đầu tư, thành viên ban đầu của DAC gồm 18 nước: Áo, Bỉ, Hà lan, Nauy. các nước trong ủy ban này theo thường kỳ thông báo các khoản đóng góp của họ cho chương trình viện trợ phát triển để DAC biết và trao đổi các vấn đề liên quan với chính sách viện trợ phát triển. Lần đầu tiên DAC đưa ra khái niệm về ODA năm 1969.
Năm 1970, Đại hội đồng liên hợp quốc đã chính thức thông qua chỉ tiêu ODA bằng 0,7% GNP của các nước phát triển vào năm 1985 và bằng 1% vào đầu năm 2000 Năm 1994, ngân hàng thế giới được thành lập tại hội nghị quốc tế về tài chính- tiền tệ tổ chức vào tháng 7/1994 tại Breton Woods thuộc bang New Harmpshire. Mục tiêu chính của ngân hàng thế giới là thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế- xã hội và tăng trưởng phúc lợi của các nước thành viên đang phát triển với tư cách như một trung gian tài chính. Ngày nay, ngân hàng thế giới góp phần quan trọng trong việc dải ngân ODA cho các nước đang và kém phát triển, trong đó có Việt Nam. Phân loại ODA Có nhiều cách phân loại ODA, dưới đây là một số cách phổ biến nhất: 1.1 Phân loại vốn ODA theo hình thức cấp a.Vốn ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp vốn ODA mà nước nhận viện trợ không phải hoàn trả vốn và lãi cho bên viện trợ.
Vốn ODA không hoàn lại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thường được các nước đang phát triển ưu tiên cho những dự án thuộc lĩnh vực: dân số, y tế, giáo dục đào tạo, hoặc các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, phát triển giao thông nông thôn và miền núi, bảo vệ môi trường. Vốn ODA không hoàn lại thường được cấp dưới các hình thức sau: - Hỗ trợ kỹ thuật: là sự hỗ trợ cho các nước đang phát triển thực hiện các nghiên cứu phát triển, lập nghiên cứu khả thi, đánh giá tác động môi trường, hỗ trợ ngành nghề. Các tổ chức tài trợ thực hiện tài trợ thông qua việc thuê các chuyên gia đào tạo cho nước nhận vốn ODA. - Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: là hình thức viện trợ cho các nước nghèo có xảy ra thiên tai, dịch bệnh.
Viện trợ thực hiện dưới dạng hàng hóa thiết yếu như lương thực, thuốc chữa bệnh, vải. - Đầu tư các dự án bảo vệ môi trường: Nguồn vốn ODA dùng để đầu tư vào các dự án xử lý chất thải rắn - nước thải đô thị, các khu bảo tồn thiên nhiên, xử lý chất độc sau chiến tranh, trồng rừng phòng hộ. ODA vay ưu đãi: Là khoản vốn vay ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ; đảm bảo yếu tố không hoàn lại của khoản vay tối thiểu phải là 25% tổng giá trị khoản vay đối với khoản vay không ràng buộc và 35% tổng giá trị khoản vay đối với khoản vay có ràng buộc. Những điều kiện ưu đãi thường áp dụng bao gồm: Lãi suất từ 0% đến 3%/năm Thời gian vay nợ dài (15 năm đến 40 năm) Thời gian ân hạn (không trả lãi hoặc hoãn trả nợ) từ 10 năm đến 12 năm để vốn vay có thời gian phát huy hiệu quả.Vốn ODA hỗn hợp: là khoản vốn ODA kết hợp một phần vốn không hoàn lại với một phần vốn vay có hoàn lại theo các điều kiện của OECD, những yếu tố không hoàn lại phải đạt không dưới 25% tổng giá trị của các khoản vốn đó; hoặc có thể kết hợp một phần không hoàn lại với một phần tín dụng ưu đãi và một phần tín dụng thương mại nhưng phải đảm bảo yếu tố không hoàn lại của khoản vay đó tối thiểu phải là 25% tổng giá trị khoản vay đối với khoản vay không ràng buộc và 35% đối với khoản vay có ràng buộc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Phân loại theo nguồn cấp, vốn ODA được chia thành 2 loại : a.Vốn ODA song phương: là khoản vốn tài trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ. Vốn ODA song phương dựa trên mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia nên thủ tục ký kết nhanh, lĩnh vực hợp tác đa dạng và qui mô dự án rất linh hoạt. ODA đa phương: là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức của các định chế tài chính quốc tế như : Ngân Hàng Thế Giới (WB), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)… hoặc các tổ chức quốc tế và liên minh quốc gia như: Tổ chức Nông nghiệp và lương thực (FAO), Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP),Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO), Quỹ môi Trường Toàn Cầu (GEF)…dành cho một nước, hoặc nguồn vốn hỗ trợ của một Chính phủ nào đó dành cho một Chính phủ khác thông qua một tổ chức đa phương trên thế giới.