Luận án TS. Nguyễn Hoàng Chung: Phân tích cú sốc chính sách tiền tệ Việt Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích phân tích phản ứng của các biến số vĩ mô trước cú sốc chính sách tiền tệ thông qua mô hình keynes, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

312
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Danh mục từ viết tắt

Danh mục phương trình

Danh mục các phụ lục

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1.2. Đặt vấn đề nghiên cứu

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.3.1. Mục tiêu chung

1.3.2. Mục tiêu cụ thể

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1. Đối tượng nghiên cứu

1.5.1.1. Các nhân tố CSTT và ATVM tác động đến tăng trưởng tín dụng
1.5.1.2. Các biến số kinh tế vĩ mô trong mô hình Keynes mới

1.5.2. Phạm vi nghiên cứu

1.5.2.1. Đối với các nhân tố tác động đến tăng trưởng tín dụng
1.5.2.2. Đối với các nhân tố tác động đến nền kinh tế mở và nhỏ

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.6.1. Phương pháp nghiên cứu tổng quát

1.6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

1.6.2.1. Phương pháp ước lượng biến số tác động đến tăng trưởng tín dụng
1.6.2.2. Phương pháp ước lượng biến số vĩ mô của mô hình Keynes mới SVAR
1.6.2.3. Phương pháp ước lượng biến số vĩ mô của mô hình Keynes mới DSGE

1.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

1.8. Kết quả đạt được và những đóng góp mới của luận án

1.9. Kết cấu của luận án

1.10. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH KEYNES MỚI

2.1. Các cơ sở lý thuyết liên quan đến mô hình Keynes mới

2.1.1. Cơ sở lý thuyết về chính sách an toàn vĩ mô

2.1.1.1. Ổn định tài chính
2.1.1.2. Chính sách an toàn vĩ mô

2.1.2. Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ

2.1.2.1. Kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ
2.1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản về chính sách tiền tệ
2.1.2.3. Mục tiêu của chính sách tiền tệ

2.1.3. Lý thuyết cân bằng tổng thể

2.1.3.1. Lý thuyết về tổng cầu – tổng cung
2.1.3.1.1. Lý thuyết về tổng cầu
2.1.3.1.2. Lý thuyết về tổng cung
2.1.3.2. Lý thuyết về cung tiền và lạm phát

2.1.4. Lý thuyết về khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu

2.1.4.1. Đặc điểm và các yếu tố chính của CSTT lạm phát mục tiêu
2.1.4.2. Mục đích của chính sách lạm phát mục tiêu
2.1.4.3. Các điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu

2.2. Những lý luận cơ bản về mô hình Keynes mới

2.2.1. Tổng quan về mô hình Keynes mới

2.2.2. Cấu trúc mô hình Keynes mới 3 phương trình

2.2.3. Cấu trúc mô hình Keynes mới 4 phương trình

2.2.4. Cấu trúc mô hình Keynes áp dụng tại Việt Nam (IMF xây dựng)

2.2.5. Mô hình Keynes mới SVAR

2.2.5.1. Phương trình IS
2.2.5.2. Phương trình AS
2.2.5.3. Phương trình ngang giá lãi suất không bảo hiểm rủi ro tỷ giá
2.2.5.4. Phương trình chính sách tiền tệ hướng về tương lai

2.2.6. Lý thuyết về giá trị kỳ vọng hợp lý

2.2.7. Mô hình Keynes mới DSGE

2.2.7.1. Cơ sở lý thuyết về mô hình DSGE
2.2.7.2. Cấu trúc mô hình DSGE
2.2.7.3. Khung phân tích chính sách và lý thuyết về dự báo kinh tế
2.2.7.4. Các trường phái trong mô hình DSGE
2.2.7.5. Khái quát về phương pháp ước lượng mô hình DSGE
2.2.7.6. Các yếu tố ma sát (frictions) trong mô hình DSGE
2.2.7.7. Ưu điểm và nhược điểm của mô hình DSGE

2.3. Các công trình nghiên cứu trước đây

2.3.1. Các nghiên cứu về chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô

2.3.1.1. Nghiên cứu quốc tế
2.3.1.2. Nghiên cứu trong nước

2.3.2. Các nghiên cứu về mô hình Keynes mới SVAR

2.3.2.1. Nghiên cứu quốc tế
2.3.2.2. Nghiên cứu trong nước

2.3.3. Các công trình nghiên cứu về DSGE

2.3.3.1. Nghiên cứu quốc tế
2.3.3.2. Nghiên cứu trong nước

2.4. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối với CSTT và chính sách an toàn vĩ mô

3.1.1. Mô hình nghiên cứu

3.1.2. Dữ liệu nghiên cứu

3.1.3. Phương pháp nghiên cứu

3.1.4. Quy trình nghiên cứu

3.2. Đối với mô hình Keynes mới SVAR

3.2.1. Mô hình kinh tế lượng tiếp cận

3.2.1.1. Mô hình VAR
3.2.1.2. Mô hình SVAR

3.2.2. Dữ liệu nghiên cứu

3.2.3. Phương pháp nghiên cứu

3.2.3.1. Quy trình nghiên cứu
3.2.3.2. Kiểm định mô hình VAR giản lược
3.2.3.3. Phân tích các tham số cấu trúc đồng thời
3.2.3.4. Thực hiện hàm phản ứng xung
3.2.3.5. Thực hiện phân rã phương sai

3.3. Đối với mô hình DSGE dùng để dự báo cho nền kinh tế mở Việt Nam

3.3.1. Mô hình nghiên cứu

3.3.1.1. Phương trình đường cong IS
3.3.1.2. Phương trình đường cong Phillips Keynes mới cho nền kinh tế mở
3.3.1.3. Phương trình chính sách tiền tệ
3.3.1.4. Các phương trình khác

3.3.2. Dữ liệu nghiên cứu

3.3.3. Phương pháp ước lượng mô hình DSGE

3.3.3.1. Tiền nghiệm cho các tham số trong mô hình VAR
3.3.3.2. Tiền nghiệm cho các tham số trong mô hình DSGE
3.3.3.3. Phân phối hậu nghiệm của mô hình VAR
3.3.3.4. Lựa chọn độ trễ và trọng số cho tiền nghiệm

3.3.4. Quy trình nghiên cứu

3.3.4.1. Các bước ước lượng cho mô hình BVAR - DSGE
3.3.4.2. Tiền nghiệm cho mô hình DSGE

3.4. Tóm tắt chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Phân tích mô tả

4.1.1. Thống kê mô tả dữ liệu vi mô

4.1.2. Thống kê mô tả dữ liệu vĩ mô

4.2. Phân tích thực nghiệm

4.2.1. Kết quả nghiên cứu của mô hình ước lượng theo phương pháp FGLS

4.2.2. Kết quả nghiên cứu của cú sốc chính sách

4.2.2.1. Kiểm tra tính dừng (kiểm định nghiệm đơn vị) cho các chuỗi số liệu
4.2.2.2. Chọn độ trễ tối ưu và tính ổn định của mô hình
4.2.2.3. Kiểm định mô hình dạng VAR giản lược
4.2.2.4. Kiểm định phần dư của các phương trình trong mô hình VAR
4.2.2.5. Xác định các điều kiện giới hạn trong ước lượng SVAR
4.2.2.6. Tham số ước lượng đồng thời
4.2.2.7. Hàm phản ứng xung
4.2.2.8. Phân rã phương sai

4.2.3. Kết quả nghiên cứu của dự báo chính sách

4.2.3.1. Lựa chọn trọng số lamda (λ) và độ trễ
4.2.3.2. Mô hình DSGE

4.3. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ HẠN CHẾ

5.1. Tóm tắt các kết quả chính của luận án

5.1.1. Khẳng định vai trò của CSTT trong việc ổn định vĩ mô tại Việt Nam

5.1.2. Các biến số vĩ mô có phản ứng động trước các cú sốc chính sách

5.1.3. Mô hình dự báo Keynes mới có ý nghĩa phân tích chính sách

5.2. Hàm ý chính sách

5.2.1. NHNN trong việc sử dụng các công cụ của CSTT

5.2.1.1. Về việc thực thi chính sách tiền tệ
5.2.1.2. Mô hình Keynes mới phục vụ công tác dự báo vĩ mô

5.2.2. Hạn chế của nghiên cứu

5.2.2.1. Về dữ liệu, cách sử dụng biến trong mô hình
5.2.2.2. Về phương pháp tiếp cận và đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam
5.2.2.3. Về kết quả nghiên cứu

5.3. Tóm tắt chương 5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám phá Sốc Chính sách Tiền tệ VN Góc nhìn Mới từ Keynes Hiện đại

Những biến động bất ngờ trong chính sách tiền tệ Việt Nam thường gây ra các cú sốc chính sách tiền tệ VN, ảnh hưởng sâu rộng đến ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và các cuộc khủng hoảng tài chính gần đây, việc phân tích và dự báo các cú sốc này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các Ngân hàng Trung ương trên thế giới, bao gồm cả Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), đã nhận thấy rằng mục tiêu ổn định giá cả đơn thuần không đủ để đảm bảo sự ổn định tài chính toàn diện. Do đó, yêu cầu về các mô hình phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô ngày càng cao.

"Mục tiêu ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát (price stability) không đủ để đảm bảo ổn định tài chính." (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.1). Đây là một nhận định quan trọng nhấn mạnh sự cần thiết của một cách tiếp cận toàn diện hơn. Nghiên cứu sâu về sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới cung cấp một khung lý thuyết mạnh mẽ, giúp đánh giá phản ứng của các biến số kinh tế vĩ mô trước các cú sốc. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với các nền kinh tế mở và nhỏ như Việt Nam, nơi các yếu tố ngoại sinh và kỳ vọng của các chủ thể kinh tế đóng vai trò quan trọng. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoàng Chung (2019) đã chỉ ra rằng, trong điều kiện các công cụ an toàn vĩ mô chưa hoàn thiện, chính sách tiền tệ vẫn giữ vai trò then chốt trong việc ổn định và điều tiết vĩ mô. Việc xây dựng và ứng dụng mô hình Keynes mới giúp nâng cao khả năng phân tích chính sách và dự báo kinh tế vĩ mô, từ đó hỗ trợ hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả hơn. Mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là trở thành một Ngân hàng Trung ương hiện đại, điều này đòi hỏi việc liên tục cải thiện năng lực nghiên cứu và dự báo. Phân tích các cú sốc chính sách tiền tệ VN thông qua mô hình Keynes mới sẽ làm sáng tỏ các cơ chế truyền dẫn và tác động, góp phần quan trọng vào việc đạt được mục tiêu này. Sự hiểu biết về cách các cú sốc này lan truyền trong nền kinh tế giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định kịp thời và chính xác, từ đó giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi ích cho toàn xã hội. Nội dung bài viết này sẽ đi sâu vào các khía cạnh lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, và kết quả thực nghiệm liên quan đến chủ đề sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách cụ thể.

1.1. Ổn định vĩ mô Vai trò cốt lõi của Chính sách Tiền tệ Việt Nam

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, ổn định kinh tế vĩ mô trở thành mục tiêu hàng đầu. Chính sách tiền tệ Việt Nam đóng vai trò không thể thiếu trong việc duy trì sự ổn định này. Theo Nguyễn Hoàng Chung (2019), "luận án tìm thấy bằng chứng các công cụ CSTT có ảnh hưởng mạnh hơn so với các công cụ ATVM trong việc duy trì sự OĐTC tại Việt Nam." Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) trong việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát các biến số vĩ mô như lạm phát Việt Nam, lãi suất ngân hàng nhà nước, và tỷ giá hối đoái. Một chính sách tiền tệ hiệu quả không chỉ giúp kiềm chế lạm phát mà còn thúc đẩy tăng trưởng GDP Việt Nam và ổn định hệ thống tài chính. Khi các cú sốc chính sách tiền tệ VN xảy ra, phản ứng kịp thời và chính xác của SBV là yếu tố quyết định đến khả năng phục hồi và phát triển bền vững của nền kinh tế. Sự ổn định giá cả, được xem là mục tiêu dài hạn của chính sách tiền tệ, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh, góp phần vào sự thịnh vượng chung của quốc gia. Các công cụ như lãi suất chính sách, dự trữ bắt buộc và hoạt động thị trường mở được sử dụng linh hoạt để điều tiết cung tiền M2thanh khoản hệ thống ngân hàng, từ đó tác động đến tổng cầu và các hoạt động kinh tế.

1.2. Giới thiệu Mô hình Keynes mới Nền tảng phân tích sốc CSTT

Mô hình Keynes mới là một khuôn khổ lý thuyết tiên tiến trong kinh tế học vĩ mô, được phát triển để giải quyết những hạn chế của các mô hình truyền thống, đặc biệt là trong phân tích các cú sốc và biến động kinh tế. "Cách tiếp cận Keynes mới nhận được nhiều sự quan tâm bởi mô hình này nhấn mạnh hành vi tối ưu hóa liên thời kỳ của các chủ thể kinh tế hay xây dựng nền tảng vi mô cho các giả thuyết của trường phái này để giải quyết vấn đề cứng nhắc của giá cả và tiền lương danh nghĩa (nominal rigidity)" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.3). Đặc trưng của mô hình Keynes mới là việc kết hợp các giả định về độ cứng giá (sticky prices) và độ cứng tiền lương (sticky wages) cùng với kỳ vọng hợp lý của các tác nhân kinh tế. Điều này cho phép mô hình giải thích được sự chậm trễ trong việc điều chỉnh giá cả và sản lượng trước các cú sốc, đặc biệt là sốc chính sách tiền tệ VN. Với cấu trúc bao gồm phương trình tổng cầu động (IS), phương trình tổng cung (AS) hay đường Phillips mới, phương trình ngang giá lãi suất không bảo hiểm rủi ro tỷ giá (UIP) và quy tắc chính sách tiền tệ hướng về tương lai, mô hình Keynes mới cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách các cú sốc truyền dẫn và tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoáiđộ lệch sản lượng. Việc áp dụng mô hình Keynes mới giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về cơ chế vận hành của nền kinh tế, từ đó đưa ra các quyết định điều hành chính sách tiền tệ Việt Nam một cách có cơ sở và hiệu quả hơn.

1.3. Bối cảnh Khủng hoảng Tài chính và tính cấp thiết nghiên cứu

Bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm thay đổi đáng kể nhận thức về vai trò của chính sách tiền tệ và sự cần thiết của các công cụ an toàn vĩ mô. Sau những cuộc khủng hoảng, nhiều quốc gia nhận thấy chỉ riêng mục tiêu ổn định giá cả là chưa đủ để đảm bảo ổn định tài chính. Điều này đặt ra yêu cầu cao hơn cho việc phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cú sốc chính sách tiền tệ VN. Việt Nam, với nền kinh tế mở và đang phát triển nhanh chóng, phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức từ các cú sốc ngoại sinh. "Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh chóng và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, những cơ hội và thách thức đối với quá trình phát triển kinh tế ngày càng gia tăng đòi hỏi phải nhanh chóng cải thiện năng lực nghiên cứu, dự báo kinh tế vĩ mô tại Việt Nam" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.1). Việc thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về mô hình cân bằng động tổng thể ngẫu nhiên (DSGE) dựa trên khuôn khổ Keynes mới ở Việt Nam càng làm tăng tính cấp thiết của đề tài. Mô hình DSGE, với nền tảng lý thuyết vững chắc về hành vi tối ưu hóa và kỳ vọng hợp lý của các tác nhân, cùng khả năng phân tích chính sách tiền tệ "hướng về tương lai", trở thành công cụ không thể thiếu để nâng cao chất lượng dự báo và hoạch định chính sách. Chính vì vậy, việc nghiên cứu sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang giá trị thực tiễn cao, giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối phó hiệu quả hơn với các biến động kinh tế.

II. Tại sao Sốc Chính sách Tiền tệ là Thách thức cho Ổn định Vĩ mô Việt Nam

Các cú sốc chính sách tiền tệ VN gây ra những biến động bất ngờ, đe dọa trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam. Nền kinh tế mở như Việt Nam đặc biệt nhạy cảm với các cú sốc ngoại sinh, từ biến động giá dầu thế giới đến các chính sách của các nền kinh tế lớn. Bên cạnh đó, các yếu tố nội tại như sự mất cân đối trong tăng trưởng tín dụng hoặc những thay đổi đột ngột trong công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) cũng có thể tạo ra các cú sốc. Khi những cú sốc này xảy ra, chúng có thể dẫn đến lạm phát Việt Nam tăng cao, biến động tỷ giá hối đoái không mong muốn, hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến thanh khoản hệ thống ngân hàng, đe dọa đến ổn định tài chính toàn diện.

"Luận án tìm thấy bằng chứng các công cụ CSTT có ảnh hưởng mạnh hơn so với các công cụ ATVM trong việc duy trì sự OĐTC tại Việt Nam." (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.3). Điều này càng khẳng định vai trò trọng yếu của chính sách tiền tệ Việt Nam trong việc đối phó với các cú sốc. Tuy nhiên, việc kiểm soát hiệu quả các biến động này đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về cơ chế truyền dẫn và tác động của chúng. Các mô hình kinh tế truyền thống thường gặp khó khăn trong việc nắm bắt được đầy đủ các khía cạnh phức tạp này, đặc biệt là khi có sự tham gia của kỳ vọng lạm phát và hành vi tối ưu hóa của các chủ thể kinh tế. Việc không dự báo hoặc phản ứng kịp thời trước các cú sốc có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy giảm tăng trưởng GDP Việt Nam, gia tăng nợ xấu, hoặc thậm chí là một cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện. Do đó, việc nghiên cứu sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới không chỉ là một nỗ lực học thuật mà còn là một yêu cầu cấp bách để trang bị cho các nhà hoạch định chính sách những công cụ phân tích mạnh mẽ hơn. Một hệ thống tài chính không ổn định sẽ làm suy yếu hiệu quả của chính sách tiền tệ, cản trở việc phân bổ nguồn lực và làm mất niềm tin của công chúng. Điều này càng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các thách thức và tìm kiếm các giải pháp hiệu quả để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong một môi trường đầy biến động.

2.1. Tác động của Cú sốc Ngoại sinh và Nội sinh đến Kinh tế Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam, với độ mở cao và sự phụ thuộc vào thương mại quốc tế, đặc biệt dễ bị tổn thương trước các cú sốc ngoại sinh. Những thay đổi trong chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn, biến động giá cả hàng hóa toàn cầu, hoặc các sự kiện địa chính trị có thể nhanh chóng truyền dẫn và gây ra sốc chính sách tiền tệ VN. Ví dụ, sự thay đổi trong lãi suất ngân hàng nhà nước của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái và dòng vốn đầu tư vào Việt Nam. Bên cạnh đó, các cú sốc nội sinh như sự mất cân đối trong cung tiền M2, biến động bất thường của lãi suất, hoặc các vấn đề về thanh khoản hệ thống ngân hàng cũng là nguyên nhân gây ra sốc chính sách tiền tệ. "Theo đó công tác đánh giá, phân tích và dự báo tình hình phát triển kinh tế, đặc biệt là một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hoạch định các chiến lược, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.1). Các cú sốc này có thể làm chệch hướng các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, gây ra lạm phát Việt Nam hoặc suy giảm tăng trưởng GDP Việt Nam. Việc phân biệt và hiểu rõ cơ chế tác động của từng loại cú sốc là cần thiết để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) có thể đưa ra các biện pháp đối phó phù hợp và kịp thời, giảm thiểu tác động kinh tế vĩ mô tiêu cực.

2.2. Kiểm soát Tăng trưởng Tín dụng Yếu tố Then chốt cho Ổn định Tài chính

Tăng trưởng tín dụng đóng vai trò kép trong nền kinh tế: là động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP Việt Nam nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro gây bất ổn định tài chính nếu không được kiểm soát chặt chẽ. "Nghiên cứu khẳng định lại một lần nữa tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng tín dụng. Do đó tính hiệu quả của CSTT được thể hiện thông qua việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng vẫn là chủ yếu" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.3). Khi tín dụng tăng trưởng quá nóng, nó có thể dẫn đến việc hình thành các bong bóng tài sản, tăng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng và làm suy yếu thanh khoản hệ thống ngân hàng. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính trong lịch sử. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) thường sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ như điều chỉnh lãi suất ngân hàng nhà nước hoặc tỷ lệ dự trữ bắt buộc để quản lý tốc độ tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, việc đạt được sự cân bằng giữa thúc đẩy tăng trưởng và duy trì ổn định tài chính là một thách thức lớn. Các cú sốc chính sách tiền tệ VN có thể làm phức tạp thêm việc kiểm soát này, đòi hỏi SBV phải có khả năng phân tích và dự báo chính xác để đưa ra các chính sách thắt chặt tiền tệ hoặc chính sách nới lỏng tiền tệ một cách kịp thời và hiệu quả. Việc theo dõi sát sao tăng trưởng tín dụng và các chỉ số liên quan là cực kỳ quan trọng để ngăn chặn các rủi ro hệ thống và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

2.3. Hạn chế của Công cụ Chính sách Tiền tệ truyền thống

Các công cụ chính sách tiền tệ truyền thống như điều chỉnh lãi suất ngân hàng nhà nước và kiểm soát cung tiền M2 đã được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế phức tạp và thường xuyên đối mặt với các cú sốc chính sách tiền tệ VN, những công cụ này bộc lộ một số hạn chế. Một trong những hạn chế lớn nhất là khả năng truyền dẫn của chính sách có thể không đồng đều hoặc không hiệu quả trong mọi điều kiện thị trường. Ví dụ, trong trường hợp "bẫy thanh khoản" (liquidity trap), việc giảm lãi suất có thể không kích thích đầu tư và tiêu dùng như kỳ vọng. "Nhiều NHTW đã không thể giải thích các bằng chứng thực nghiệm từ mô hình cấu trúc bởi vì sự hạn chế của các biến số vĩ mô và các kênh truyền dẫn trong CSTT chưa thực sự thuyết phục, chưa có đánh giá toàn diện và đầy đủ về ảnh hưởng giữa các biến số này" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.20). Các mô hình truyền thống thường khó khăn trong việc tích hợp yếu tố kỳ vọng lạm phát và hành vi forward-looking của các tác nhân kinh tế, điều này làm giảm độ chính xác của dự báo và phân tích. Đối với Việt Nam, việc các công cụ chính sách tiền tệ an toàn vĩ mô chưa hoàn thiện càng làm tăng gánh nặng lên chính sách tiền tệ. Việc thiếu một khuôn khổ toàn diện để đánh giá tác động kinh tế vĩ mô từ các cú sốc đòi hỏi một cách tiếp cận mới, như mô hình Keynes mới, để bổ sung và nâng cao hiệu quả của các công cụ hiện có. Hiểu rõ những hạn chế này là bước đầu tiên để phát triển các giải pháp chính sách linh hoạt và hiệu quả hơn, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam.

III. Bí quyết phân tích Mô hình Keynes mới lý giải Sốc CSTT VN hiệu quả

Để hiểu rõ hơn về sốc chính sách tiền tệ VN và cách chúng ảnh hưởng đến nền kinh tế, việc áp dụng mô hình Keynes mới mang lại một "bí quyết phân tích" toàn diện và hiệu quả. "Mô hình DSGE theo trường phái Keynes mới được xây dựng trên hai nguyên tắc cơ bản trong kinh tế vĩ mô hiện đại về mô hình hóa hành vi của các tác nhân kinh tế là kỳ vọng hợp lý và tối đa hóa lợi ích. Do đó mô hình có nền tảng lý thuyết vững chắc hơn nhiều so với các mô hình truyền thống" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.2). Mô hình Keynes mới tích hợp các yếu tố quan trọng như độ cứng giá và độ cứng tiền lương danh nghĩa, cùng với giả định về kỳ vọng hợp lý của các chủ thể kinh tế. Điều này cho phép mô hình mô phỏng các phản ứng động của các biến số vĩ mô như lãi suất ngân hàng nhà nước, lạm phát Việt Nam, tỷ giá hối đoái và độ lệch sản lượng trước các cú sốc chính sách.

Cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ trong khuôn khổ Keynes mới được phân tích qua nhiều kênh, bao gồm kênh lãi suất, kênh tín dụng, kênh tỷ giá và kênh kỳ vọng. Các kênh này giải thích cách các thay đổi trong công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) lan truyền qua nền kinh tế và cuối cùng tác động đến tổng cầu và tăng trưởng GDP Việt Nam. Ví dụ, khi SBV điều chỉnh lãi suất chính sách, điều này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí vay mượn mà còn tác động đến kỳ vọng lạm phát của các doanh nghiệp và hộ gia đình, từ đó thay đổi quyết định đầu tư và tiêu dùng của họ. "Kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lạm phát và trong cơ chế truyền dẫn CSTT cho nền kinh tế vĩ mô" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.28). Việc nắm vững các cơ chế này là cực kỳ quan trọng để chính sách tiền tệ Việt Nam có thể đối phó hiệu quả với các cú sốc. Mô hình Keynes mới không chỉ giúp phân tích các tác động kinh tế vĩ mô tức thì mà còn dự báo các xu hướng dài hạn, cung cấp thông tin giá trị cho việc hoạch định các chính sách nới lỏng tiền tệ hoặc chính sách thắt chặt tiền tệ một cách chủ động và có cơ sở khoa học. Sự hiểu biết sâu sắc về mô hình Keynes mới là chìa khóa để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nâng cao khả năng quản lý và điều hành nền kinh tế trong một môi trường phức tạp và đầy biến động.

3.1. Mô hình Keynes mới và Kỳ vọng hợp lý của Chủ thể Kinh tế

Một trong những đóng góp quan trọng của mô hình Keynes mới là việc tích hợp giả định về kỳ vọng hợp lý của các chủ thể kinh tế. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp và hộ gia đình sử dụng tất cả thông tin có sẵn, bao gồm cả thông tin về chính sách tiền tệ, để dự báo tương lai và đưa ra quyết định tối ưu hóa lợi ích của mình. "Giả định mọi người sử dụng tối ưu tất cả thông tin hiện có, trong đó có thông tin về các chính sách hiện hành, để dự báo tương lai. Theo lý thuyết này, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ hoặc tài khóa làm thay đổi kỳ vọng" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.2). Sự thay đổi trong kỳ vọng lạm phát có thể tác động mạnh mẽ đến các biến số kinh tế vĩ mô, ngay cả khi chính sách tiền tệ không thay đổi trực tiếp. Ví dụ, nếu các chủ thể kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) sẽ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ trong tương lai, họ có thể tăng chi tiêu hoặc đầu tư ngay lập tức. Mô hình Keynes mới giúp phân tích cách các cú sốc chính sách tiền tệ VN tác động thông qua kênh kỳ vọng, cho phép SBV hiểu rõ hơn về hiệu quả của truyền thông chính sách và độ tin cậy của mình. Việc xây dựng chính sách dựa trên kỳ vọng hợp lý giúp tăng cường khả năng dự báo và ổn định kinh tế vĩ mô, tránh được những phản ứng không mong muốn từ thị trường.

3.2. Cơ chế truyền dẫn Chính sách Tiền tệ Kênh Lãi suất và Tỷ giá

Trong khuôn khổ mô hình Keynes mới, các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ đóng vai trò thiết yếu trong việc giải thích tác động kinh tế vĩ mô của các cú sốc chính sách tiền tệ VN. Kênh lãi suất là một trong những kênh truyền thống nhất: khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) điều chỉnh lãi suất ngân hàng nhà nước (lãi suất chính sách), điều này ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường, từ đó tác động đến quyết định đầu tư và tiêu dùng. "CSTT mở rộng  i  I  Y " (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.21). Cơ chế này còn mở rộng khi lạm phát kỳ vọng thay đổi, làm giảm lãi suất thực và kích thích kinh tế.

Đối với một nền kinh tế mở như Việt Nam, kênh tỷ giá hối đoái cũng cực kỳ quan trọng. Khi chính sách tiền tệ nới lỏng, lãi suất thực giảm có thể làm giảm giá trị đồng nội tệ, khiến hàng xuất khẩu rẻ hơn và nhập khẩu đắt hơn, từ đó tăng xuất khẩu ròng và tăng trưởng GDP Việt Nam. "CSTT mở rộng  ir  E  NX  Y " (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.22). Tuy nhiên, hiệu quả của kênh tỷ giá còn phụ thuộc vào mức độ can thiệp của SBV vào thị trường ngoại hối và kỳ vọng của thị trường. Việc hiểu rõ cách các kênh này hoạt động giúp chính sách tiền tệ Việt Nam điều chỉnh hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ để đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh các cú sốc.

3.3. Đường Phillips mới và Vai trò của Lạm phát Kỳ vọng

Đường Phillips mới (New Keynesian Phillips Curve - NKPC) là một thành phần cốt lõi của mô hình Keynes mới, giúp giải thích mối quan hệ giữa lạm phát Việt Nam và độ lệch sản lượng (output gap). Không giống như đường Phillips truyền thống, NKPC tích hợp yếu tố kỳ vọng lạm phát và độ cứng giá cả (sticky prices). Điều này có nghĩa là lạm phát hiện tại không chỉ phụ thuộc vào độ lệch sản lượng mà còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ lạm phát kỳ vọng của các tác nhân kinh tế. Nếu các doanh nghiệp kỳ vọng lạm phát tăng trong tương lai, họ có thể tăng giá ngay lập tức, dẫn đến lạm phát thực tế tăng lên.

Sự hiện diện của đường Phillips mới trong mô hình Keynes mới cho phép phân tích sâu sắc hơn về cách các cú sốc chính sách tiền tệ VN ảnh hưởng đến lạm phát. Ví dụ, một cú sốc chính sách nới lỏng tiền tệ có thể làm tăng kỳ vọng lạm phát, từ đó thúc đẩy lạm phát thực tế. "Kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lạm phát và trong cơ chế truyền dẫn CSTT cho nền kinh tế vĩ mô" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.28). Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) quản lý kỳ vọng lạm phát là một yếu tố then chốt để duy trì ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát Việt Nam. Hiểu rõ mối liên hệ này giúp SBV xây dựng chính sách tiền tệ hiệu quả hơn, đảm bảo rằng các hành động chính sách không chỉ tác động trực tiếp mà còn gián tiếp thông qua việc định hình kỳ vọng của thị trường, từ đó góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô.

IV. Phương pháp SVAR DSGE Cách đánh giá phản ứng kinh tế vĩ mô VN

Để thực hiện phân tích chuyên sâu về sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới, các nhà nghiên cứu thường sử dụng những phương pháp tiên tiến như Structural Vector Autoregression (SVAR)Dynamic Stochastic General Equilibrium (DSGE). Những mô hình này cung cấp "cách đánh giá" toàn diện về phản ứng của các biến số kinh tế vĩ mô VN trước các cú sốc, giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) nâng cao năng lực phân tích và dự báo. "Ưu điểm của việc sử dụng mô hình VAR cấu trúc (SVAR) và DSGE là dự báo vì có thể giải thích được kết quả dự báo dựa trên phương trình của các sốc và lý thuyết kinh tế trong các phương trình của mô hình, cụ thể là dự báo các biến số vĩ mô dựa trên các cú sốc giả định hoặc tiến hành phân tích kịch bản với các đánh giá rủi ro" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.2).

Mô hình SVAR cho phép nhận diện và đo lường tác động kinh tế vĩ mô của các cú sốc cấu trúc, bao gồm cú sốc tổng cầu, cú sốc tổng cung, cú sốc tỷ giá và cú sốc chính sách tiền tệ. Điều này đặc biệt quan trọng để hiểu rõ cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ Việt Nam và cách các công cụ chính sách tiền tệ như lãi suất ngân hàng nhà nướccung tiền M2 tác động đến lạm phát Việt Nam, tăng trưởng GDP Việt Namtỷ giá hối đoái. Mặt khác, mô hình DSGE Việt Nam cung cấp một khuôn khổ lý thuyết vững chắc, được xây dựng trên nền tảng vi mô và giả định kỳ vọng hợp lý của các tác nhân kinh tế. "Đây được xem là khuôn khổ phân tích CSTT thông qua các cú sốc chính sách và mô hình mô phỏng dự báo của các biến số vĩ mô" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.2). Mô hình DSGE đặc biệt hữu ích cho việc dự báo dài hạn và phân tích các kịch bản chính sách, hỗ trợ SBV trong việc hoạch định các chính sách nới lỏng tiền tệ hoặc chính sách thắt chặt tiền tệ "hướng về tương lai". Sự kết hợp giữa SVAR và DSGE, đôi khi thông qua phương pháp Bayesian VAR (BVAR) với thông tin tiền nghiệm từ DSGE, giúp tăng cường độ chính xác và tin cậy của các dự báo, từ đó nâng cao khả năng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và ứng phó với khủng hoảng tài chính tiềm tàng. Việc nắm vững và áp dụng thành thạo các phương pháp này là yếu tố then chốt để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động và hiệu quả trong một môi trường kinh tế đầy thử thách.

4.1. Ứng dụng SVAR trong phân tích cú sốc cấu trúc Chính sách Tiền tệ

Mô hình Structural Vector Autoregression (SVAR) là công cụ mạnh mẽ để phân tích sốc chính sách tiền tệ VNtác động kinh tế vĩ mô của chúng. Bằng cách thiết lập các điều kiện ràng buộc dựa trên lý thuyết kinh tế, SVAR cho phép các nhà nghiên cứu nhận diện các cú sốc cấu trúc độc lập (chẳng hạn như cú sốc tiền tệ, cú sốc cung, cú sốc cầu) và đánh giá phản ứng của các biến số như lạm phát Việt Nam, lãi suất ngân hàng nhà nước, tỷ giá hối đoái và độ lệch sản lượng. "Mô hình vec tơ tự hồi quy cấu trúc (Structural Vector Autoregression - SVAR) nhận được nhiều sự quan tâm bởi khả năng mô phỏng các phản ứng động của các biến số vĩ mô đối với các cú sốc cấu trúc (structural shocks)" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.3).

Đối với chính sách tiền tệ Việt Nam, SVAR giúp định lượng mức độ và thời gian phản ứng của nền kinh tế trước các quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV). Ví dụ, một cú sốc chính sách thắt chặt tiền tệ có thể làm tăng lãi suất và giảm cung tiền M2, từ đó ảnh hưởng đến đầu tư và tiêu dùng. Phân tích hàm phản ứng xung (Impulse Response Function - IRF) và phân rã phương sai (Variance Decomposition - VD) trong SVAR cung cấp cái nhìn định lượng về mức độ ảnh hưởng của mỗi loại cú sốc đến sự biến động của từng biến số vĩ mô. Điều này hỗ trợ SBV trong việc đưa ra các quyết định chính sách dựa trên bằng chứng, tối ưu hóa hiệu quả của các công cụ chính sách tiền tệ và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

4.2. Mô hình DSGE Việt Nam Dự báo Lãi suất Ngân hàng Nhà nước và Lạm phát

Mô hình Dynamic Stochastic General Equilibrium (DSGE) là một công cụ phân tích mô hình kinh tế vĩ mô hiện đại, được xây dựng trên nền tảng vi mô và giả định kỳ vọng hợp lý. Đối với DSGE Việt Nam, mô hình này đặc biệt hữu ích trong việc dự báo các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng như lãi suất ngân hàng nhà nướclạm phát Việt Nam, cũng như tỷ giá hối đoái và độ lệch sản lượng. "Một đặc điểm quan trọng trong mô hình của DSGE là phản ánh yếu tố kỳ vọng của các tác nhân và do đó, việc sử dụng mô hình DSGE để phân tích và dự báo hỗ trợ tích cực cho việc xây dựng CSTT “hướng về tương lai - forward-looking”" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.2).

Với khả năng mô phỏng hành vi tối ưu hóa của các hộ gia đình và doanh nghiệp, DSGE cho phép các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về cách các cú sốc chính sách tiền tệ VN truyền dẫn và tác động đến các quyết định kinh tế. Ví dụ, việc dự báo chính xác lãi suất ngân hàng nhà nướclạm phát Việt Nam giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) thiết lập các mục tiêu chính sách tiền tệ một cách khoa học, tránh được những biến động bất lợi và duy trì ổn định giá cả. Mô hình DSGE cũng hỗ trợ phân tích các kịch bản chính sách khác nhau, cho phép SBV đánh giá tiềm năng của các chính sách nới lỏng tiền tệ hoặc chính sách thắt chặt tiền tệ trước khi triển khai, từ đó tối ưu hóa hiệu quả trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng GDP Việt Nam.

4.3. Ước lượng Bayesian VAR BVAR kết hợp thông tin tiền nghiệm

Trong bối cảnh dữ liệu lịch sử ở các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam có thể hạn chế, phương pháp ước lượng Bayesian VAR (BVAR) kết hợp thông tin tiền nghiệm (prior information) từ mô hình DSGE trở thành một giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng dự báo và phân tích sốc chính sách tiền tệ VN. "Nghiên cứu sử dụng mô hình DSGE cho nền kinh tế mở và nhỏ như Việt Nam để cung cấp các thông tin tiền nghiệm cho mô hình ước lượng Bayesian VAR (BVAR)" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.4). Thông tin tiền nghiệm này thường dựa trên các giả định lý thuyết vững chắc từ mô hình Keynes mới DSGE, giúp ổn định ước lượng và tăng cường độ tin cậy của các kết quả, đặc biệt khi dữ liệu thực tế không đủ phong phú.

Việc kết hợp DSGE và BVAR không chỉ cung cấp các dự báo chính xác hơn về các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát Việt Nam, lãi suất ngân hàng nhà nước, và tỷ giá hối đoái mà còn cho phép phân tích các tác động kinh tế vĩ mô của các cú sốc theo một cách có cấu trúc hơn. Phương pháp này đặc biệt quan trọng đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) trong việc xây dựng một hệ thống dự báo và phân tích chính sách mạnh mẽ, "góp phần khuyến nghị về việc sử dụng mô hình Keynes mới SVAR và DSGE trong truyền thông chính sách của NHNN" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.13). Bằng cách tận dụng cả lý thuyết và dữ liệu, BVAR-DSGE giúp SBV hiểu rõ hơn về cách nền kinh tế phản ứng với các công cụ chính sách tiền tệ, từ đó đưa ra các quyết định hiệu quả nhằm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

V. Kết quả thực nghiệm Phản ứng động của VN trước cú sốc chính sách tiền tệ

Phân tích sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới đã mang lại những kết quả thực nghiệm quan trọng về cách nền kinh tế Việt Nam phản ứng trước các biến động. Luận án của Nguyễn Hoàng Chung (2019) đã sử dụng mô hình Keynes mới SVAR để đánh giá "phản ứng động của các biến số vĩ mô trước tác động của các cú sốc cấu trúc". Các phát hiện này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động kinh tế vĩ mô của các loại cú sốc khác nhau, từ đó giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) hoạch định chính sách tiền tệ Việt Nam hiệu quả hơn. Nghiên cứu đã mô phỏng phản ứng của các biến số chính như độ lệch sản lượng, lạm phát Việt Nam, tỷ giá hối đoáilãi suất chính sách trước bốn loại cú sốc cấu trúc: cú sốc tổng cầu, cú sốc tổng cung, cú sốc tỷ giá và cú sốc chính sách tiền tệ.

Kết quả cho thấy mỗi loại cú sốc đều có những ảnh hưởng đặc trưng đến nền kinh tế. Ví dụ, một cú sốc chính sách nới lỏng tiền tệ của SBV có thể làm giảm lãi suất ngân hàng nhà nước, kích thích đầu tư và tiêu dùng, từ đó thúc đẩy tăng trưởng GDP Việt Nam. Ngược lại, một cú sốc chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ có xu hướng làm giảm lạm phát Việt Nam nhưng có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng sản lượng. "Các biến số vĩ mô có phản ứng động trước các cú sốc chính sách" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.13), khẳng định tính linh hoạt nhưng cũng đầy thách thức trong việc điều hành kinh tế vĩ mô. Sự truyền dẫn của các cú sốc này không chỉ diễn ra trực tiếp mà còn thông qua kênh kỳ vọng lạm phát của các chủ thể kinh tế, như đã được phân tích trong khuôn khổ mô hình Keynes mới. Việc hiểu rõ cường độ và thời gian phản ứng của từng biến số là cần thiết để SBV có thể đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời và đúng liều lượng, giảm thiểu các hậu quả tiêu cực và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Những kết quả này không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng, hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong công tác dự báo và điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt trong việc đối phó với các tình huống khủng hoảng tài chính tiềm ẩn.

5.1. Phân tích Tác động Kinh tế Vĩ mô từ cú sốc Cung và Cầu

Các cú sốc cung và cầu là hai loại cú sốc cấu trúc cơ bản có tác động kinh tế vĩ mô đáng kể, đặc biệt khi phân tích sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới. Cú sốc tổng cầu, liên quan đến những thay đổi trong chi tiêu tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ hoặc xuất khẩu ròng, có thể làm dịch chuyển đường tổng cầu và ảnh hưởng đến độ lệch sản lượnglạm phát Việt Nam. "Sự dịch chuyển của đường tổng cầu liên quan đến một cú sốc cầu tích cực là sự tăng lên của cung tiền, tăng chi tiêu Chính phủ, tăng xuất khẩu ròng, giảm thuế hoặc sự tăng lên của việc sẵn sàng chi tiêu và đầu tư bởi vì tâm lý lạc quan" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.31). Một cú sốc tổng cầu tích cực thường dẫn đến tăng trưởng GDP Việt Namlạm phát tăng trong ngắn hạn.

Ngược lại, cú sốc tổng cung, thường liên quan đến thay đổi về công nghệ, giá nguyên liệu hoặc năng suất lao động, tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất và khả năng cung ứng của nền kinh tế. "Một cú sốc cung bất lợi, như là việc giảm nguyên liệu thô (dầu) sẽ làm tăng giá dầu, dẫn đến tăng chi phí sản xuất và làm dịch chuyển tổng cung sang trái" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.32). Cú sốc cung bất lợi có thể gây ra hiện tượng "lạm phát đình trệ" (stagflation), vừa tăng lạm phát Việt Nam vừa giảm tăng trưởng GDP Việt Nam. Việc phân tích bằng mô hình Keynes mới SVAR giúp định lượng mức độ và hướng phản ứng của các biến số vĩ mô trước các cú sốc này, từ đó cung cấp thông tin quan trọng cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) trong việc điều chỉnh chính sách tiền tệ Việt Nam để ổn định kinh tế vĩ mô.

5.2. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam SBV trong ứng phó sốc

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đóng vai trò trung tâm trong việc ứng phó với các cú sốc chính sách tiền tệ VN và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam. Thông qua việc sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ như điều chỉnh lãi suất ngân hàng nhà nước, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở, SBV nỗ lực điều tiết cung tiền M2thanh khoản hệ thống ngân hàng. "Nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của CSTT trong hành động chính sách của Ngân Hàng Trung Ương (NHTW) nhằm tìm kiếm sự ổn định vĩ mô tại Việt Nam" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.2).

Phân tích thực nghiệm từ mô hình Keynes mới cho thấy các phản ứng của SBV có thể tác động mạnh mẽ đến các biến số như lạm phát Việt Nam, tăng trưởng GDP Việt Namtỷ giá hối đoái. Ví dụ, khi đối mặt với nguy cơ lạm phát cao, SBV có thể thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất chính sách, từ đó giảm tổng cầu và kiềm chế lạm phát. Ngược lại, trong bối cảnh suy thoái, chính sách nới lỏng tiền tệ có thể được áp dụng để kích thích kinh tế. Hiệu quả của các biện pháp này phụ thuộc vào khả năng SBV định hình kỳ vọng lạm phát và hành vi của các tác nhân kinh tế. Các kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của sự minh bạch và độ tin cậy trong truyền thông chính sách của SBV để các quyết định chính sách được thị trường hiểu và phản ứng theo hướng mong muốn, góp phần vào ổn định tài chính và phát triển bền vững.

5.3. Độ lệch Sản lượng và Lạm phát Việt Nam phản ứng thế nào

Trong khuôn khổ sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới, việc phân tích phản ứng của độ lệch sản lượng (output gap) và lạm phát Việt Nam là cực kỳ quan trọng. "Nghiên cứu mô phỏng lại phản ứng của các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm: độ lệch sản lượng (output gap), lạm phát (inflation), tỷ giá hối đoái (exchange rate) và LSCS (a policy interest rate) đối với bốn cú sốc cấu trúc" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.4). Kết quả từ các mô hình kinh tế vĩ mô như SVAR và DSGE cho thấy độ lệch sản lượnglạm phát Việt Nam có những phản ứng động riêng biệt trước các cú sốc.

Ví dụ, một cú sốc chính sách nới lỏng tiền tệ bất ngờ có thể làm giảm lãi suất ngân hàng nhà nước, kích thích tổng cầu và dẫn đến độ lệch sản lượng dương (sản lượng thực tế cao hơn sản lượng tiềm năng) trong ngắn hạn, kèm theo đó là áp lực tăng lạm phát Việt Nam. Ngược lại, chính sách thắt chặt tiền tệ có thể làm giảm độ lệch sản lượng và kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải lúc nào cũng đơn giản, do sự phức tạp của cơ chế truyền dẫn và vai trò của kỳ vọng lạm phát. Đường Phillips mới giải thích rằng lạm phát không chỉ phụ thuộc vào độ lệch sản lượng mà còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ lạm phát kỳ vọng của thị trường. Việc hiểu rõ những phản ứng này giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) dự báo chính xác hơn về quỹ đạo của lạm pháttăng trưởng GDP Việt Nam sau các cú sốc, từ đó điều chỉnh công cụ chính sách tiền tệ một cách phù hợp để đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ môổn định tài chính.

VI. Hàm ý chính sách và Tương lai Chính sách Tiền tệ VN Cái nhìn từ Keynes mới

Kết quả phân tích sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới mang đến những hàm ý chính sách quan trọng cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), định hướng tương lai chính sách tiền tệ Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động. Các phát hiện cho thấy vai trò không thể thiếu của chính sách tiền tệ trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt khi các công cụ an toàn vĩ mô chưa hoàn thiện. "Nghiên cứu khuyến nghị NHNN cần quan tâm đúng mức đối với nhóm các biến CSTT trong việc ổn định vĩ mô khi mà chính sách ATVM chưa hoàn thiện tại Việt Nam" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.13). Việc áp dụng mô hình Keynes mới DSGE và SVAR không chỉ giúp SBV hiểu rõ hơn về tác động kinh tế vĩ mô của các cú sốc mà còn hỗ trợ xây dựng một khuôn khổ dự báo "hướng về tương lai", tăng cường khả năng phản ứng chủ động.

Trong tương lai, chính sách tiền tệ Việt Nam cần tiếp tục ưu tiên mục tiêu ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát Việt Nam, đồng thời duy trì sự linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ. Điều này bao gồm khả năng thực hiện cả chính sách nới lỏng tiền tệ để kích thích tăng trưởng khi cần thiết và chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát hoặc rủi ro hệ thống. Sự minh bạch trong truyền thông chính sách của SBV là chìa khóa để định hình kỳ vọng lạm phát và đảm bảo các quyết định chính sách được thị trường tiếp nhận một cách hiệu quả. "Nghiên cứu góp phần khuyến nghị về việc sử dụng mô hình Keynes mới SVAR và DSGE trong truyền thông chính sách của NHNN" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.13). Việc không ngừng cải thiện các mô hình kinh tế vĩ mô dự báo, đặc biệt là DSGE Việt Nam dựa trên nền tảng vi mô, sẽ là nền tảng vững chắc cho việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ hiện đại. Đây là bước đi cần thiết để Việt Nam có thể chủ động đối phó với các cú sốc ngoại sinh và nguy cơ khủng hoảng tài chính, đảm bảo sự phát triển bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô lâu dài. Những hiểu biết sâu sắc từ mô hình Keynes mới sẽ tiếp tục là kim chỉ nam cho SBV trong hành trình này.

6.1. Khuyến nghị nâng cao hiệu quả Chính sách Nới lỏng Tiền tệ và Thắt chặt

Dựa trên phân tích sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới, một khuyến nghị quan trọng cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) là cần tối ưu hóa hiệu quả của cả chính sách nới lỏng tiền tệchính sách thắt chặt tiền tệ. "NHNN trong việc sử dụng các công cụ của CSTT" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.165) cần có sự linh hoạt và nhạy bén. Khi nền kinh tế đối mặt với nguy cơ suy thoái hoặc thiếu thanh khoản hệ thống ngân hàng, chính sách nới lỏng tiền tệ thông qua giảm lãi suất ngân hàng nhà nước hoặc tăng cung tiền M2 có thể kích thích tăng trưởng GDP Việt Nam. Tuy nhiên, việc nới lỏng quá mức có thể dẫn đến lạm phát Việt Nam và rủi ro ổn định tài chính. Ngược lại, khi lạm phát gia tăng hoặc có dấu hiệu tăng trưởng tín dụng quá nóng, chính sách thắt chặt tiền tệ là cần thiết để kiềm chế rủi ro.

Hiệu quả của các chính sách này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng SBV dự báo và quản lý kỳ vọng lạm phát của thị trường. Việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ một cách minh bạch và nhất quán sẽ tăng cường độ tin cậy của SBV, giúp các chính sách truyền dẫn hiệu quả hơn. Các mô hình kinh tế vĩ mô như DSGE và SVAR cung cấp nền tảng để đánh giá tác động kinh tế vĩ mô của từng hành động chính sách, từ đó hỗ trợ SBV trong việc đưa ra các quyết định có căn cứ, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô mà không gây ra những biến động không mong muốn.

6.2. Phát triển Mô hình Kinh tế Vĩ mô cho Dự báo Chính sách Hướng về Tương lai

Để chính sách tiền tệ Việt Nam có thể chủ động đối phó với các cú sốc chính sách tiền tệ VN trong tương lai, việc phát triển các mô hình kinh tế vĩ mô dự báo "hướng về tương lai" là điều cần thiết. "Mô hình DSGE được xây dựng và hiệu chỉnh sao cho phù hợp với mục tiêu dự báo đối với các biến số vĩ mô của nền kinh tế như: Độ lệch sản lượng, lạm phát, LSCS, biến động trong tỉ giá hối đoái và điều khoản thương mại" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.4). Mô hình Keynes mới DSGE, với khả năng tích hợp kỳ vọng hợp lý của các tác nhân kinh tế, chính là công cụ lý tưởng cho mục tiêu này. DSGE Việt Nam không chỉ cung cấp các dự báo về lạm phát Việt Nam, lãi suất ngân hàng nhà nướctỷ giá hối đoái mà còn cho phép phân tích các kịch bản chính sách và đánh giá rủi ro một cách toàn diện.

Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các mô hình kinh tế vĩ mô tiên tiến, kết hợp giữa lý thuyết và dữ liệu thực tế, sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) có cái nhìn sâu sắc hơn về cơ chế vận hành của nền kinh tế. Điều này hỗ trợ SBV trong việc "xây dựng và phát triển những mô hình mới, dựa trên những nền tảng lý thuyết vững chắc để nâng cao khả năng phân tích chính sách và dự báo kinh tế vĩ mô là hết sức cần thiết trong việc hoạch định và điều hành CSTT" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.1). Một hệ thống dự báo mạnh mẽ sẽ giúp SBV đưa ra các quyết định chính sách nới lỏng tiền tệ hoặc chính sách thắt chặt tiền tệ một cách chủ động, giảm thiểu tác động kinh tế vĩ mô tiêu cực và hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô bền vững.

6.3. Hạn chế và Hướng nghiên cứu tiếp theo về DSGE Việt Nam

Mặc dù mô hình Keynes mới DSGE mang lại nhiều lợi ích trong phân tích sốc chính sách tiền tệ VN, luận án của Nguyễn Hoàng Chung (2019) cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế cần được khắc phục. "Hạn chế của nghiên cứu: Về dữ liệu, cách sử dụng biến trong mô hình. Về phương pháp tiếp cận và đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam. Về kết quả nghiên cứu" (Nguyễn Hoàng Chung, 2019, tr.166). Các hạn chế này có thể liên quan đến chất lượng và tính sẵn có của dữ liệu cho DSGE Việt Nam, cũng như sự phức tạp trong việc hiệu chỉnh mô hình để phản ánh chính xác các đặc điểm riêng của nền kinh tế mở và đang phát triển như Việt Nam.

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc phân tích sốc chính sách tiền tệ VN qua mô hình Keynes mới, các hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc thu thập và chuẩn hóa dữ liệu tốt hơn, đồng thời tinh chỉnh các giả định của mô hình kinh tế vĩ mô để phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam. Ví dụ, cần nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ma sát (frictions) trong DSGE và cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh tín dụng trong bối cảnh đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Việc tích hợp thêm các yếu tố về thanh khoản hệ thống ngân hàng và rủi ro hệ thống vào DSGE Việt Nam cũng là một hướng đi đầy tiềm năng. Liên tục cải tiến các công cụ chính sách tiền tệ và mô hình dự báo sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và đối phó hiệu quả hơn với các thách thức trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ phân tích phản ứng của các biến số vĩ mô trước cú sốc chính sách tiền tệ thông qua mô hình keynes mới nhằm nâng cao chất lượng dự báo kinh tế vĩ mô của việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề nghiên cứu Luận án tìm thấy bằng chứng các công cụ CSTT có ảnh hưởng mạnh hơn so với các công cụ ATVM trong việc duy trì sự OĐTC tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu khẳng định lại một lần nữa tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng tín dụng. Do đó tính hiệu quả của CSTT được thể hiện thông qua việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng vẫn là chủ yếu. Qua đó cho thấy vai trò quan trọng của NHTW trong việc góp phần ổn định vĩ mô tại Việt Nam.

Đây là cơ sơ quan trọng để lý thuyết Keynes (Keynes, 1936) được vận dụng và phát triển trong nghiên cứu. Cách tiếp cận Keynes mới nhận được nhiều sự quan tâm bởi mô hình này nhấn mạnh hành vi tối ưu hóa liên thời kỳ của các chủ thể kinh tế hay xây dựng nền tảng vi mô cho các giả thuyết của trường phái này để giải quyết vấn đề cứng nhắc của giá cả và tiền lương danh nghĩa (nominal rigidity). Kể từ nghiên cứu của Sims (1980), mô hình vec tơ tự hồi quy cấu trúc (Structural Vector Autoregression - SVAR) nhận được nhiều sự quan tâm bởi khả năng mô phỏng các phản ứng động của các biến số vĩ mô đối với các cú sốc cấu trúc (structural shocks). Một cách tổng quát, mô hình SVAR được xác định dựa vào việc thiết lập các điều kiện ràng buộc (restrictions) trong các phương trình phù hợp với lý thuyết kinh tế.

Những giả định xác định sau đó được kiểm tra dựa trên các phản ứng động (Hall, 1995). Mối quan hệ cấu trúc đồng thời giữa các biến số vĩ mô được đề xuất bởi Kim và Roubini (2000). Huh (1999) dựa trên các giả định xác định trên mô hình Mundell - Fleming4 tĩnh với việc áp đặt các điều kiện ràng buộc ngắn và dài hạn. Dungey và Pagan (2000, 2009) phát triển mô hình cấu trúc cấu trúc khối đệ quy (a block – recursive structural model) với 11 biến số.

Trong chính sách lạm phát mục tiêu, NHTW thiết lập mục tiêu lạm phát cho chính sách tiền tệ và sau đó thực thi chính sách tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu đó. 4 Xem chi tiết tại mục phụ lục 2, phụ lục 7. download by : skknchat@gmail.com 4 behaviour) của các chủ thể kinh tế (economic agents). Ngoài ra, mối quan hệ tổng hợp sử dụng khuôn khổ SVAR dẫn xuất từ mô hình cân bằng tổng thể động (Dynamic General Equilibrium Model).

Trong đó NHTW và các chủ thể tư nhân trong nền kinh tế giả định kỳ vọng hợp lý và hướng về tương lai (Hodge & ctg, 2008; Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Hoàng Chung, 2017). Thứ nhất, cấu trúc mô hình Keynes mới SVAR bao gồm phương trình tổng cầu động (IS) dựa trên đại diện tối ưu hóa hữu dụng biên của các chủ thể trong nền kinh tế mở và nhỏ, phương trình tổng cung (aggregate supply - AS) hay đường cong Keynes mới Phillips (New Keynesian Phillips curve - NKPC) dựa trên nền tảng nghiên cứu của Calvo’s (1983) về mô hình biến động giá cả (a staggered price model), một phương trình ngang giá lãi suất không bảo hiểm rủi ro tỷ giá (UIP) và một quy tắc chính sách tiền tệ hướng về tương lai. Thông qua đó, nghiên cứu mô phỏng lại phản ứng của các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm: độ lệch sản lượng (output gap), lạm phát (inflation), tỷ giá hối đoái (exchange rate) và LSCS (a policy interest rate) đối với bốn cú sốc cấu trúc - cú sốc tổng cầu, cú sốc tổng cung, cú sốc tỷ giá và cú sốc CSTT. Thứ hai, nghiên cứu mô hình Keynes mới với phương pháp tiếp cận DSGE (Mô hình Keynes mới DSGE) ước lượng dự báo cho nền kinh tế nhỏ và mở cửa như Việt Nam.

Mô hình được xây dựng và hiệu chỉnh sao cho phù hợp với mục tiêu dự báo đối với các biến số vĩ mô của nền kinh tế như: Độ lệch sản lượng, lạm phát, LSCS, biến động trong tỉ giá hối đoái và điều khoản thương mại. Ngược lại với các nền tảng thống kê thuần túy, nghiên cứu sử dụng mô hình DSGE cho nền kinh tế mở và nhỏ như Việt Nam để cung cấp các thông tin tiền nghiệm cho mô hình ước lượng Bayesian5 VAR (BVAR). Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phù hợp tương đối về phương pháp tiếp cận và tính tương thích giữa mô hình lí thuyết và dữ liệu thực tế nhằm xây dựng một mô hình dự báo có ý nghĩa cho Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu 1.

Mục tiêu chung Thực hiện kiểm định sự phù hợp của mô hình Keynes mới nhằm khẳng định vai trò của CSTT trong việc ổn định vĩ mô tại Việt Nam. 5 Xem chi tiết về nội suy Bayes tại phụ lục 19. download by : skknchat@gmail. Mục tiêu cụ thể Thứ nhất, nghiên cứu đánh giá vai trò của chính sách tiền tệ trong việc ổn định vĩ mô tại Việt Nam thông qua việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng; Thứ hai, nghiên cứu đánh giá tác động từ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến các biến số vĩ mô; Thứ ba, nghiên cứu đánh giá sự phù hợp của mô hình Keynes mới trong việc giải thích các biến động kinh tế vĩ mô; Thứ tư, nghiên cứu sử dụng mô hình Keynes mới SVAR để đánh giá phản ứng của các biến số vĩ mô trước các cú sốc của chính các biến số này; Thứ năm, nghiên cứu ứng dụng mô hình Keynes mới DSGE phục vụ phân tích, dự báo và truyền thông chính sách về kinh tế vĩ mô tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu Thứ nhất, vai trò của CSTT tại Việt Nam được biểu hiện thông qua việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng như thế nào? Thứ hai, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước có tác động như thế nào đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam? Thứ ba, tại sao mô hình Keynes mới được xem là phù hợp để giải thích cho các biến động kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn? Thứ tư, cú sốc của các biến số vĩ mô tác động đến các biến số này thông qua mô hình Keynes mới như thế nào? Thứ năm, khả năng dự báo của mô hình Keynes mới DSGE cho các biến số vĩ mô của Việt Nam như thế nào? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu 1. Các nhân tố CSTT và ATVM tác động đến tăng trưởng tín dụng Các nhân tố tác động đến tăng trưởng tín dụng (TTTD) của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2017.

download by : skknchat@gmail.com 6 Biến phụ thuộc Nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu TTTD (credit growth - CRD) như là chỉ số đại điện cho sự ổn định tài chính (OĐTC). Điều này phù hợp với nghiên cứu của Kim & ctg (2018), theo đó tăng trưởng kinh tế là thước đo phản ánh sự ổn định của hệ thống tài chính. Thật vậy, việc TTTD quá mức làm cho khủng hoảng ngân hàng dễ dàng xảy ra và dẫn đến sự bất OĐTC (Borio & ctg, 2009; Schularick & ctg, 2012). Biến độc lập Theo Tressel & Zhang (2016), những thay đổi bất thường của TTTD và giá tài sản là hai tín hiệu quan trọng của rủi ro hệ thống, được sử dụng để làm chỉ số cảnh báo sớm sự bất ổn tài chính.

Thực tế tại Việt Nam, giai đoạn tín dụng tăng trưởng quá nóng 2007 - 2010 (tỷ lệ tăng trưởng dư nợ luôn duy trì ở mức trên 25%) dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao, nhất là trong giai đoạn 2011 - 2013. Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn đối với các ngân hàng yếu kém mất khả năng thanh khoản và làm cho hoạt động toàn hệ thống kém ổn định. Như vậy, chỉ số TTTD (crd) có thể phản ánh mức độ rủi ro mà các ngân hàng và là chỉ số phản ánh khả năng phát triển bền vững và lành mạnh của hệ thống tài chính trong tương lai (Imran & Nishat, 2013). Ngoài ra, các biến độc lập đại diện cho CSTT là tỷ lệ dự trữ bắt buộc (rrr) và lãi suất tái chiết khấu (dr); đại diện cho chính sách ATVM là hệ số an toàn vốn (car), tỷ lệ dự trữ thanh khoản (liq), tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (ldr) và các biến kiểm soát để giảm tác động gây nhiễu của các biến bị bỏ sót và hiện tượng hệ số ước lượng không đáng tin cậy (mô hình không vững, hệ số ước lượng không có ý nghĩa thống kê,…) tăng trưởng kinh tế (gdp) và tốc độ lạm phát (cpi).

Các biến số kinh tế vĩ mô trong mô hình Keynes mới Khuôn khổ mô hình Keynes mới SVAR Các biến số vĩ mô tác động đến cơ chế truyền dẫn CSTT trong mô hình Keynes mới SVAR theo phương pháp tiếp cận kỳ vọng hợp lý. Nghiên cứu thực nghiệm cho nền kinh tế nhỏ, mở của Việt Nam sử dụng dữ liệu theo quý và bắt đầu từ quý II/2000 đến quý III/2017. Các chuỗi số liệu được sử dụng cho nghiên cứu bao gồm: Lãi suất chính sách (r): Trước năm 2010, dữ liệu theo IMF - IFS là lãi suất tín phiếu kho bạc Nhà nước (treasury bill rate); từ sau năm 2010, số liệu download by : skknchat@gmail.com 7 này được IMF - IFS chuẩn hóa là LSCS (policy rate). Theo Nguyễn Thế Khải (2017), lãi suất trên thị trường tiền tệ được chia thành hai nhóm: lãi suất chịu tác động của quan hệ cung – cầu vốn6 và lãi suất do NHTW công bố được sử dụng để điều hành CSTT7.

Biến độ lệch sản lượng (dy_hp): Độ lệch sản lượng được tính bằng chênh lệch giữa logarit sản lượng thực và sản lượng tiềm năng (HP filter)8 (IMF–IFS). Tỷ giá hối đoái (lne): Tỷ giá dẫn xuất từ cặp tỷ giá USD/VNĐ của IMF - IFS; được lấy logarit nepe (ln) nhằm làm co dữ liệu, để ước lượng được chính xác hơn. Lạm phát (pi): Chỉ số này được đại diện bởi chỉ số giá tiêu dùng trong nước theo quý, lấy dữ liệu của IMF - IFS. Đối với nhóm biến nước ngoài bao gồm lạm phát (cpi_us) và lãi suất Quỹ liên bang của Mỹ (int_us); lấy dữ liệu theo IMF - IFS và Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).

Khuôn khổ mô hình Keynes mới DSGE Các biến số kinh tế vĩ mô trong mô hình Keynes mới theo cách tiếp cận DSGE.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ