Tổng quan nghiên cứu

Nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình đổi mới đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân, tăng trưởng từ 414 doanh nghiệp vào năm 1991 lên hơn 350.000 doanh nghiệp đăng ký đến năm 2008. Lực lượng này đóng góp xấp xỉ 40% GDP và tạo ra khoảng 90% tổng số việc làm mới cho xã hội. Sự phát triển vượt bậc đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện về tầng lớp doanh nhân Việt Nam trong kết cấu xã hội - giai cấp. Dưới lăng kính triết học duy vật lịch sử, đề tài tập trung giải quyết vấn đề định vị bản chất, vị trí chính trị - xã hội và quy luật vận động của một tầng lớp xã hội mới hình thành trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự ra đời của đội ngũ doanh nhân mới; phân tích thực trạng về số lượng, chất lượng, cơ cấu và mối quan hệ giai tầng giữa doanh nhân với công nhân, nông dân, trí thức; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm phát huy tối đa vai trò của lực lượng này. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ tiến trình đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến năm 2008, trọng tâm là giai đoạn sau khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2000, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ lý luận vững chắc cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định chính sách kinh tế - xã hội. Nghiên cứu hỗ trợ hiện thực hóa mục tiêu phát triển 500.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nâng tỷ trọng đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh từ 22,6% năm 2000 lên trên 32% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và ổn định chính trị quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trọng tâm lý thuyết là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và lý luận về giai cấp, tầng lớp xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Luận văn vận dụng sâu sắc luận điểm của Các Mác và Phrid-rích Ăng-ghen về sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cùng tư tưởng của V.I. Lênin về việc sử dụng kinh tế nhiều thành phần và chủ nghĩa tư bản nhà nước làm mắt xích trung gian trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh đó, đề tài tiếp thu có chọn lọc các lý thuyết kinh tế học hiện đại về vai trò của doanh nhân. Tiêu biểu là lý thuyết đổi mới sáng tạo và cải cách sản xuất năm 1934 của Joseph Schumpeter, lý thuyết chấp nhận rủi ro của Richard Cantillon và mô hình phân bổ nguồn lực của Jean-Baptiste Say. Hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm năm thuật ngữ cốt lõi: tầng lớp doanh nhân, kết cấu xã hội - giai cấp, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân và liên minh công - nông - trí thức.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm tài liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê, Báo cáo điều tra 63.000 doanh nghiệp tư nhân của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dữ liệu khảo sát 1.800 doanh nhân toàn quốc do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện, cùng số liệu từ Dự án khảo sát Ishikawa trên 481 doanh nghiệp tư nhân. Cỡ mẫu nghiên cứu quy mô lớn cho phép bao quát bức tranh đa chiều về cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo ngành nghề sản xuất, thương nghiệp, dịch vụ và chọn mẫu theo cụm địa bàn kinh tế trọng điểm. Việc lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện khoa học cho hơn 220.000 doanh nghiệp đang hoạt động thực tế trên cả nước. Về mặt phân tích, tác giả kết hợp chặt chẽ phương pháp lôgíc với lịch sử, phân tích thống kê so sánh định lượng và tiếp cận liên ngành xã hội học - kinh tế chính trị. Sự kết hợp này giúp bóc tách bản chất của các biến đổi xã hội phức tạp mà các phương pháp đơn lẻ không thể giải thích thấu đáo. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế từ năm 1986 đến cuối năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự gia tăng nhanh chóng về số lượng nhưng quy mô vốn và lao động của doanh nghiệp còn rất nhỏ. Tính đến hết năm 2008, cả nước có trên 350.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, song số lượng thực tế đang vận hành là khoảng 220.000 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ xấp xỉ 62,8%. Trong đó, 95% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, 51,3% doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động, 44% sử dụng từ 10 đến 200 lao động và 42% có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng.

Thứ hai, cơ cấu xã hội của tầng lớp doanh nhân phản ánh sự dịch chuyển rõ nét từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân. Khảo sát cho thấy có 66% doanh nhân xuất thân từ gia đình cán bộ nhà nước và lực lượng vũ trang. Tỷ lệ doanh nhân từng là bộ đội, công an, công chức và công nhân nhà nước chiếm 38,93%; doanh nhân là đảng viên đạt 19,2% và đoàn viên thanh niên chiếm 28,34%. Về cơ cấu độ tuổi và giới tính, lực lượng từ 30 đến 50 tuổi chiếm 57,4%, doanh nhân trẻ chiếm 75% đến 80% toàn ngành, trong khi doanh nhân nữ chiếm 25% tổng số và nắm giữ 30% giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán.

Thứ ba, hiệu quả kinh tế - xã hội của tầng lớp doanh nhân tăng trưởng vượt trội song chất lượng nguồn nhân lực còn tồn tại khoảng cách lớn. Khu vực kinh tế tư nhân duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân từ 18% đến 24% mỗi năm, đóng góp hơn 6.000 tỷ đồng tiền thuế hàng năm, chiếm 14,8% tổng thu ngân sách nhà nước và giải quyết 90% việc làm mới so với tỷ lệ khiêm tốn 5% của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Tuy vậy, có tới 43% chủ doanh nghiệp chỉ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống, tỷ lệ có bằng thạc sĩ chỉ đạt 0,6% và tiến sĩ đạt 0,8%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự bùng nổ của tầng lớp doanh nhân là nhờ các bước đột phá về thể chế, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp năm 2000, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và chủ trương của Đại hội X cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân. Những văn bản này đã gỡ bỏ định kiến xã hội, chuyển đổi vị thế của doanh nhân từ nhóm đối tượng cần cải tạo trước năm 1986 thành lực lượng nòng cốt xếp vị trí thứ tư trong kết cấu giai tầng xã hội.

Tuy nhiên, tính liên kết cộng đồng của doanh nhân Việt Nam còn yếu do ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông và phong cách kinh doanh ngắn hạn. So với các công trình của Quản Văn Trung năm 1999 hay Nguyễn Đình Tấn năm 2005, luận văn này làm rõ rằng doanh nhân Việt Nam hiện tại là một tầng lớp xã hội đặc thù chứ chưa phải là một giai cấp độc lập, bởi họ nảy sinh trong thời kỳ quá độ và chưa đại diện cho một phương thức sản xuất thống trị hoàn chỉnh. Dữ liệu nghiên cứu khi trực quan hóa qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng giải quyết việc làm (90% của tư nhân so với 5% của nhà nước) và bảng thống kê quy mô vốn (79% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng) đã chứng minh rõ nét tính năng động vượt trội song hành cùng tính dễ tổn thương của lực lượng này.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế và pháp luật kinh doanh. Chính phủ và các bộ ngành cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm tối thiểu 30% chi phí tuân thủ pháp lý cho doanh nghiệp tư nhân, thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng nhằm đạt mục tiêu 500.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả trong lộ trình 2010 - 2015.

Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị doanh nghiệp. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam triển khai các chương trình đào tạo quản trị chuẩn quốc tế, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ chủ doanh nghiệp có trình độ dưới cấp 3 từ 43% xuống dưới 20% trước năm 2015, đồng thời mở rộng các khóa bồi dưỡng chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tầng lớp doanh nhân. Ban Tổ chức Trung ương và các cấp ủy địa phương cần hướng dẫn thực hiện nghiêm túc quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân, đặt chỉ tiêu tăng trưởng số lượng đảng viên mới trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước từ 15% đến 20% mỗi năm trong giai đoạn 2010 - 2020.

Thứ tư, thúc đẩy trách nhiệm xã hội và xây dựng văn hóa kinh doanh Việt Nam. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cùng các hiệp hội doanh nghiệp cần xây dựng bộ chỉ số đạo đức kinh doanh, phấn đấu đạt tỷ lệ trên 70% doanh nghiệp tư nhân thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, đảm bảo đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ cho người lao động và bảo vệ môi trường bền vững.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và cơ quan hoạch định chính sách vĩ mô: Nhận diện rõ đặc điểm giai tầng, cơ cấu xuất thân và vai trò của doanh nhân để thiết kế các chính sách ưu đãi tài khóa, hoàn thiện khung pháp lý và tối ưu hóa nguồn thu ngân sách nhà nước.

Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học ngành Triết học, Xã hội học và Quản lý kinh tế: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo hệ thống về lý luận phân tầng xã hội, phương pháp phân tích cơ cấu giai cấp và sự chuyển dịch kinh tế trong thời kỳ quá độ.

Nhóm lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội và hiệp hội doanh nghiệp: VCCI, Hội Doanh nhân trẻ và các liên minh hợp tác xã có thể khai thác các luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược phát triển hội viên, kết nối chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp thành viên.

Nhóm chủ doanh nghiệp và các nhà khởi nghiệp: Tiếp cận góc nhìn lịch sử và bản chất xã hội của nghề kinh doanh, từ đó chủ động chuẩn hóa kiến thức quản trị, vượt qua rào cản tiểu nông và xây dựng chiến lược phát triển bền vững trong môi trường hội nhập.

Câu hỏi thường gặp

Tầng lớp doanh nhân Việt Nam thời kỳ đổi mới có phải là một giai cấp xã hội riêng biệt hay không?

Dưới góc độ triết học duy vật lịch sử, doanh nhân Việt Nam hiện nay là một tầng lớp xã hội chứ chưa phải là giai cấp. Nguyên nhân là do lực lượng này chưa đủ quy mô để trở thành một tập đoàn người to lớn và nền kinh tế quá độ hiện không tồn tại một phương thức sản xuất thống trị duy nhất.

Khu vực kinh tế tư nhân và tầng lớp doanh nhân đóng góp như thế nào vào sự phát triển của nền kinh tế?

Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 40% GDP toàn quốc, tương đương khu vực kinh tế nhà nước. Đặc biệt, đội ngũ doanh nhân tư nhân đã tạo ra khoảng 90% việc làm mới cho toàn xã hội và nộp hơn 6.000 tỷ đồng tiền thuế mỗi năm, chiếm 14,8% tổng thu ngân sách.

Thực trạng trình độ học vấn của các chủ doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ra sao?

Khảo sát trên 63.000 doanh nghiệp cho thấy 43% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống. Mặc dù có 80,5% doanh nhân từng qua đào tạo chuyên môn theo khảo sát mẫu nhỏ, nhưng tỷ lệ đạt trình độ thạc sĩ chỉ chiếm 0,6% và tiến sĩ chỉ đạt 0,8%.

Đặc điểm nguồn gốc xuất thân của doanh nhân Việt Nam thời kỳ đổi mới có gì đặc thù?

Khoảng 66% doanh nhân xuất thân từ gia đình cán bộ công chức nhà nước. Khảo sát 1.800 doanh nhân của VCCI ghi nhận 38,93% từng là bộ đội, công an, công chức và công nhân; tỷ lệ đảng viên làm doanh nhân chiếm 19,2%, khẳng định sự chuyển dịch nhân lực tích cực từ khu vực công sang khu vực tư.

Vai trò và vị thế của các nữ doanh nhân tại Việt Nam được thể hiện như thế nào?

Doanh nhân nữ hiện chiếm khoảng 25% tổng số doanh nhân toàn quốc, lãnh đạo các doanh nghiệp chiếm 30% giá trị vốn hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là tỷ lệ vượt trội so với mức dưới 2% của danh sách 500 công ty hàng đầu tại Mỹ hay các nền kinh tế Đông Á.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ bản chất triết học của tầng lớp doanh nhân Việt Nam như một bộ phận cấu thành hữu cơ trong kết cấu xã hội - giai cấp thời kỳ đổi mới.

Nghiên cứu chứng minh sự bứt phá của kinh tế tư nhân với tỷ trọng 40% GDP và 90% việc làm mới là minh chứng cho đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng.

Công trình chỉ rõ những điểm nghẽn cốt lõi về quy mô vốn khi có tới 42% doanh nghiệp dưới 1 tỷ đồng và 43% chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo cao đẳng, đại học.

Hệ thống giải pháp bốn trọng tâm đã định hình rõ lộ trình phát triển 500.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả gắn liền với củng cố khối liên minh công - nông - trí thức.

Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng triển khai chương trình hành động nâng cao năng lực quản trị và đạo đức kinh doanh giai đoạn 2010 - 2020. Hãy khai thác trọn vẹn luận cứ của công trình nghiên cứu này để xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam vững mạnh, phụng sự đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.