Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam - Những vấn đề tham chiếu" được tác giả Nguyễn Quốc Văn thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Nguyễn Đăng Dung. Công trình thuộc chuyên ngành Lí luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, mã số 62.01.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQ XHCN) theo tinh thần Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), đòi hỏi phải tiến hành cải cách toàn diện bộ máy nhà nước. Trong tiến trình đó, việc đổi mới Quốc hội được xác định là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu dựa trên bốn căn cứ:
- Quốc hội là định chế giữ vai trò tất yếu trong việc xác lập và thực hiện các nguyên tắc của NNPQ.
- Quốc hội đứng trước yêu cầu hoàn thiện mọi mặt để tương xứng với vị trí hiến định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
- Quốc hội Việt Nam còn trong giai đoạn chuyển đổi từ mô hình thời chiến, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.
- Yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước trở nên cấp bách trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
Khoảng trống nghiên cứu được chỉ rõ: dù các diễn đàn luật học đã có nhiều công trình về Quốc hội Việt Nam và nghị viện nước ngoài, nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu tham chiếu Quốc hội Việt Nam với Quốc hội các nước theo tiêu chí của NNPQ, cũng như chưa có công trình chuyên biệt so sánh toàn diện giữa Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam nhằm phục vụ trực tiếp cho hoạt động lập pháp và cải cách thể chế.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là so sánh Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam nhằm phát hiện sự tương đồng, khác biệt và nguyên nhân của những tương đồng, khác biệt đó; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện Quốc hội Việt Nam theo yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm từ Quốc hội Mĩ.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành bốn nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài.
- Làm rõ các vấn đề lí luận về Quốc hội và cơ sở lý thuyết của việc so sánh Quốc hội.
- Phân tích, so sánh hai Quốc hội trên ba phương diện: địa vị pháp lí, cơ cấu tổ chức, quy trình và thủ tục hoạt động.
- Đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam theo quy định của hiến pháp, pháp luật mỗi nước, đặt trong bối cảnh lịch sử và tư tưởng chính trị - pháp lí hình thành, phát triển của mỗi thiết chế. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các đặc trưng cơ bản, ổn định và có giá trị ứng dụng đối với Việt Nam gồm: địa vị pháp lí (trọng tâm), cơ cấu tổ chức, quy trình và thủ tục hoạt động.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa và phân tích dung lượng tài liệu tham khảo theo ba nhóm nghiên cứu chính:
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản |
Nội dung trọng tâm |
| Nghiên cứu chung về Quốc hội và NNPQ |
John Stuart Mill (Chính thể đại diện, 2008; Bàn về tự do, 2005); Alexis de Tocqueville (Nền Dân trị Mĩ, 2006); John Locke (Khảo luận thứ hai về chính quyền, 2007); Jean-Jacques Rousseau (Bàn về khế ước xã hội, 2004); Josef Thesing (NNPQ, 2002); Alex N. Dragnich (Những đại chính thể ở châu Âu, 1964); Lippson L. (Những vấn đề căn bản của Chính trị học, 1972); Norton P. (Legislatures, 1998); Simon James (1997); David M. Olson (1980); Robert U. Goehlert (1989); Keith Krehbiel (1992); Micheal Zander (2004); Walter J. Oleszek (2010); Nguyễn Văn Bông (1967); Lê Đình Chân (1975); Hồ Văn Thông (1998); Vũ Hồng Anh (2001); Dương Xuân Ngọc (2001); Nguyễn Đăng Dung & Bùi Xuân Đức (2000, 2001); Nguyễn Sĩ Dũng (2002, 2005, 2006); Nguyễn Thị Hồi (2005); Bùi Ngọc Sơn (2008); Thái Vĩnh Thắng (2010, 2011); Phạm Hồng Thái, Nguyễn Đăng Dung & Vũ Công Giao (2011, 2012). |
Lí luận nhà nước và pháp luật, tư tưởng phân quyền, chủ nghĩa hợp hiến, mô hình nghị viện các nước tư sản và XHCN. |
| Nghiên cứu về Quốc hội Mĩ |
Bản dịch: Carl Van Doren (1948); Ralph H. Gabriel (1959); Coyle C. (1967); Roger H. Davidson & Walter J. Oleszek (2002); Nguyễn Cảnh Bình dịch (2003); Bùi Ngọc Anh dịch (2003). Tác giả Việt Nam: Lê Minh Đức & Nguyễn Nghị (1994); Đỗ Lộc Diệp (1999); Vũ Đăng Hinh (2001); Phi Bằng (2000); Nguyễn Thái Yên Hương & Tạ Minh Tuấn (2011); Nguyễn Thị Hiền (1998); Nguyễn Tất Đạt (2004); Nguyễn Quốc Văn (2005, 2006, 2010, 2012); Phạm Thị Việt Hà (2005). Công trình nước ngoài: Barbara Sinclair (1990, 2011); Robert C. Byrd (1988-1993); David R. Mayhew (2004, 2005); David M. O'Brien (2011); Lawrence Baum (2009); Henry Julian Abraham & Barbara A. Loomis (2002). |
Chính thể cộng hòa tổng thống, cơ chế kiềm chế đối trọng, tổ chức lưỡng viện, hệ thống ủy ban, vai trò lập pháp và giám sát của Quốc hội Mĩ. |
| Nghiên cứu về Quốc hội Việt Nam |
Văn phòng Quốc hội: Các công trình lịch sử Quốc hội (1994, 2000, 2003, 2006, 2008, 2009); Kỷ yếu Tân Trào (1995). Luận án & sách chuyên khảo: Hoàng Văn Tú (2004); Trần Hồng Nguyên (2007); Trần Quốc Bình (2011); Trần Ngọc Đường (2005, 2008); Bùi Xuân Đức (2007); Trịnh Thị Xuyến (2008); Ngô Đức Mạnh (2008); Nguyễn Duy Quý & Nguyễn Tất Viễn (2010); Lê Minh Quân (2010); Phạm Văn Hùng (2010). Bài báo khoa học: Phan Trung Lý (2006); Nguyễn Đăng Dung (2001, 2004); Nguyễn Sĩ Dũng (2000, 2003, 2007); Nguyễn Đức Lam (2000, 2005, 2008). |
Lịch sử Quốc hội Việt Nam, cơ cấu đại biểu, tổ chức bộ máy, quy trình làm luật, hoạt động giám sát, yêu cầu đổi mới trong NNPQ XHCN. |
Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam thực hiện so sánh song diện, toàn diện và có hệ thống giữa Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam. Công trình giải quyết khoảng trống về nghiên cứu ứng dụng kinh nghiệm lập hiến, lập pháp quốc tế vào điều kiện cụ thể của Việt Nam nhằm phục vụ yêu cầu sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và xây dựng NNPQ XHCN.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng từ các khái niệm, học thuyết pháp lí nền tảng:
- Khái niệm "tham chiếu": Dựa trên các từ điển chuyên ngành (Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý năm 2011, Từ điển Tiếng Việt của Vietlex năm 2010, Từ điển Oxford trực tuyến), tác giả xác định tham chiếu là so sánh nhằm mục đích tham khảo, ứng dụng thực tiễn, sử dụng kết quả đối chiếu để cân nhắc tiếp thu trong quá trình xây dựng thể chế.
- Năm đặc trưng mang tính quy luật của Quốc hội: (1) Có nguồn gốc từ nhân dân, được nhân dân ủy thác và đại diện cho toàn thể nhân dân; (2) Sự hiện diện của Quốc hội khẳng định chủ quyền nhân dân và tính hợp pháp của chính quyền; (3) Luôn đảm nhiệm chức năng lập pháp; (4) Là cơ quan dân chủ nhất và duy nhất có thành phần không thống nhất; (5) Giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong việc xác lập và thực hiện các nguyên tắc của NNPQ.
- Lịch sử tiến hóa bốn giai đoạn của nghị viện: Giai đoạn phong kiến (cơ quan giúp việc nhà vua); giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh (thời kì hoàng kim của nghị viện); giai đoạn chủ nghĩa tư bản lũng đoạn (khủng hoảng do hành pháp lấn quyền); giai đoạn hiện đại (xác lập vị trí cân bằng, thực hiện đa dạng chức năng đại diện, lập pháp, ngân sách, giám sát).
- Cơ sở tư tưởng hình thành: Thuyết phân quyền của John Locke, Montesquieu, James Madison và Chủ nghĩa Hợp hiến (Constitutionalism) đối với Quốc hội Mĩ; Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ của dân, do dân, vì dân kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Quốc hội Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu gồm:
- Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, các học thuyết chính trị - pháp lí, lí thuyết Luật Hiến pháp và Luật So sánh.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp so sánh (chủ đạo): Thực hiện so sánh song diện (Mĩ và Việt Nam), so sánh ứng dụng (hướng tới hoàn thiện pháp luật), so sánh lập pháp (tìm kiếm mô hình lập hiến, lập pháp), so sánh tương phản và đồng nhất; coi vấn đề xã hội là điểm khởi đầu; giải thích tương đồng và khác biệt dựa trên các yếu tố hệ tư tưởng, lịch sử, văn hóa, chính trị.
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ từng yếu tố cấu thành địa vị pháp lí, cơ cấu tổ chức, quy trình hoạt động của mỗi Quốc hội.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát các đặc trưng, quy luật vận động và bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp chứng minh: Luận giải cơ sở thực tiễn và tính khả thi của các kiến nghị hoàn thiện thể chế.
Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các văn bản quy phạm pháp luật và hiến pháp (Hiến pháp Hoa Kì năm 1787; các bản Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992); các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước, luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nội quy kỳ họp; các phán quyết tư pháp, án lệ của Tòa án Tối cao Mĩ; các báo cáo tổng kết thực tiễn, số liệu thống kê hoạt động nghị viện chính thức của hai nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương này đánh giá có hệ thống các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về Quốc hội và NNPQ. Tác giả chỉ ra rằng tại các nước phương Tây và Liên Xô trước đây, công trình về thiết chế đại diện rất đồ sộ. Tại Việt Nam, trước năm 2001, các nghiên cứu còn nặng tính khuôn mẫu; từ sau năm 2001, cùng với yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN, các công trình nghiên cứu về Quốc hội, phân công và kiểm soát quyền lực, quy trình lập pháp tăng mạnh. Về Quốc hội Mĩ, các tài liệu dịch và giới thiệu tại Việt Nam đã phản ánh được cấu trúc cơ bản của chính thể cộng hòa tổng thống, nhưng chưa đi sâu vào khả năng tham chiếu ứng dụng. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải triển khai một đề tài so sánh song diện chuyên sâu giữa Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu so sánh Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam
Chương 2 làm rõ bản chất phổ quát của nghị viện và bối cảnh lịch sử ra đời của Quốc hội hai nước:
- Phân tích năm đặc trưng quy luật và sự biến thiên chức năng của Quốc hội qua bốn giai đoạn lịch sử.
- Cơ sở hình thành Quốc hội Mĩ: Là kết quả của sự thỏa hiệp chính trị giữa các bang, vận dụng thuyết phân quyền và kiềm chế đối trọng nhằm ngăn ngừa độc tài chuyên chế, được hiến định trong Hiến pháp năm 1787.
- Cơ sở hình thành Quốc hội Việt Nam: Bắt nguồn từ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (được chuẩn bị từ Quốc dân Đại hội Tân Trào năm 1945 và cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 ban hành Hiến pháp năm 1946), ra đời nhằm thiết lập chính quyền hợp pháp của nhân dân chứ không phải để cạnh tranh quyền lực với quân vương.
- Xác lập khung lý thuyết luật so sánh: Đối tượng, phạm vi, phương pháp và mục đích so sánh ứng dụng nhằm hỗ trợ cải cách thể chế.
Chương 3: Về địa vị pháp lí của Quốc hội
Nội dung chương tập trung so sánh các yếu tố cấu thành địa vị pháp lí của hai thiết chế:
- Vị trí hiến định: Khoản 1 Điều 1 Hiến pháp Mĩ năm 1787 trao toàn bộ quyền lập pháp cho Quốc hội (gồm Thượng viện và Hạ viện), đặt vị trí Quốc hội lên đầu tiên nhưng không dùng thuật ngữ "tối cao", mà vận dụng tư tưởng Madison để hạn chế quyền lực này trong thế kiềm chế đối trọng. Ngược lại, Hiến pháp Việt Nam xác định Quốc hội là "cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất", tổ chức theo nguyên tắc tập quyền XHCN có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực.
- Chức năng và quyền hạn: So sánh chức năng lập pháp, quyết định ngân sách, giám sát và quyết định các vấn đề hệ trọng. Phân tích quyền hạn của Quốc hội Mĩ trong việc luận tội (impeachment), phê chuẩn điều ước quốc tế, phê chuẩn bổ nhiệm nhân sự của Thượng viện đối lập với quyền hạn lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và bầu, miễn nhiệm các chức danh nhà nước cấp cao của Quốc hội Việt Nam.
- Mối quan hệ với các cơ quan nhà nước và đảng phái: Quốc hội Mĩ độc lập với Tổng thống (hành pháp) và Tòa án Tối cao (tư pháp) theo cơ chế kiềm chế đối trọng nghiêm ngặt; quan hệ đảng phái chịu sự chi phối bởi cấu trúc lưỡng đảng (Dân chủ và Cộng hòa). Quốc hội Việt Nam hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phối hợp chặt chẽ với Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Kiến nghị: Làm rõ giới hạn quyền lực hiến định, tăng cường tính thực quyền trong lập pháp và giám sát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước đối với Quốc hội Việt Nam.
Chương 4: Về cơ cấu tổ chức của Quốc hội
Chương 4 phân tích cấu trúc bên trong của hai mô hình:
- Cơ cấu chung: Quốc hội Mĩ tổ chức theo mô hình Lưỡng viện (Thượng viện gồm 100 thượng nghị sĩ đại diện bình đẳng cho 50 bang; Hạ viện gồm 435 hạ nghị sĩ phân bổ theo tỷ lệ dân số). Quốc hội Việt Nam tổ chức theo mô hình Đơn viện nhằm bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước.
- Cơ cấu lãnh đạo: Tại Mĩ, Chủ tịch Hạ viện (Speaker of the House) nắm quyền điều hành đa số; Phó Tổng thống Mĩ giữ chức Chủ tịch Thượng viện (President of the Senate); vai trò của các thủ lĩnh phe đa số và thiểu số. Tại Việt Nam, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực giữa hai kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp và điều hành hoạt động chung.
- Hệ thống ủy ban: Phân tích cơ chế các ủy ban thường trực (Standing Committees), tiểu ban và ủy ban hiệp thương (Conference Committees) của Mĩ với quyền lực điều tra, điều trần và sửa đổi dự luật rất lớn. Đối chiếu với Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban chuyên môn của Quốc hội Việt Nam.
- Đại biểu Quốc hội: Nghị sĩ Mĩ hoạt động chuyên trách tuyệt đối, có văn phòng riêng và bộ máy trợ lý chuyên nghiệp. Đại biểu Quốc hội Việt Nam có đặc thù kết hợp giữa đại biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm từ các cơ quan hành pháp, tư pháp, đoàn thể.
- Kiến nghị: Nâng cao tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách, tinh giản cơ cấu kiêm nhiệm hành pháp, củng cố thẩm quyền thực chất của các Ủy ban, hoàn thiện bộ máy tham mưu và trợ lý nghị sĩ.
Chương 5: Về qui trình, thủ tục hoạt động của Quốc hội
Chương này đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật nghị trường:
- Thủ tục kỳ họp: Quốc hội Mĩ làm việc thường trực liên tục theo khóa hai năm với các phiên họp thường lệ kéo dài quanh năm. Quốc hội Việt Nam hoạt động chủ yếu thông qua hai kỳ họp thường lệ mỗi năm (giữa năm và cuối năm), xen kẽ là hoạt động thường xuyên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Quy trình làm luật: Tại Mĩ, quyền sáng kiến lập pháp thuộc về nghị sĩ; dự luật phải trải qua quy trình xem xét nghiêm ngặt tại ủy ban, tranh luận tại phiên toàn thể (với thủ tục cản trở biểu quyết - filibuster tại Thượng viện), sau đó phải được cả hai viện thông qua văn bản đồng nhất trước khi chuyển Tổng thống kí ban hành hoặc phủ quyết (veto). Tại Việt Nam, sáng kiến lập pháp chủ yếu xuất phát từ Chính phủ; dự luật qua các bước soạn thảo, thẩm tra của Ủy ban, thảo luận tại tổ và hội trường, tiếp thu chỉnh lí và biểu quyết thông qua.
- Thủ tục giám sát: Phân tích công cụ giám sát của Mĩ gồm điều trần (hearings), trát đòi hầu tòa (subpoena), điều tra đặc biệt và luận tội. Đối chiếu với hình thức giám sát tối cao của Việt Nam gồm xem xét báo cáo, chất vấn tại kỳ họp, giám sát chuyên đề và lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm.
- Kiến nghị: Đổi mới quy trình phân tích chính sách lập pháp, tăng cường vai trò điều trần của các ủy ban, chuẩn hóa quy trình chất vấn và nâng cao hiệu lực các kết luận sau giám sát.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt khoa học:
- Phát hiện và giải thích nguyên nhân của những tương đồng, khác biệt giữa Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam về địa vị pháp lí, cơ cấu tổ chức và quy trình thủ tục hoạt động dựa trên các yếu tố lịch sử, chính trị, bản chất nhà nước và hệ tư tưởng.
- Nhận diện các hạt nhân hợp lí, các giới hạn điển hình và quy luật vận động của từng mô hình Quốc hội trong dòng chảy phát triển của các thiết chế đại diện trên thế giới.
- Cung cấp cơ sở lí luận và luận cứ thực tiễn để đề xuất hệ thống giải pháp tham chiếu nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN và phục vụ tiến trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
Hệ thống kiến nghị, giải pháp cụ thể được luận án đề xuất bao gồm:
- Về địa vị pháp lí: Xác định rõ phạm vi quyền hạn hiến định của Quốc hội trong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với cơ quan hành pháp và tư pháp; minh định cơ chế kiểm hiến và hạn chế quyền lực nhà nước theo các chuẩn mực NNPQ.
- Về cơ cấu tổ chức: Tăng đáng kể tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách; giảm tỷ lệ đại biểu công tác trong các cơ quan hành pháp để hạn chế tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi"; trao thêm quyền hạn thực tế cho các Ủy ban chuyên môn trong việc thẩm tra, tổ chức điều trần và sửa đổi dự thảo luật; xây dựng cơ chế trợ lý và viện nghiên cứu lập pháp chuyên nghiệp phục vụ đại biểu.
- Về quy trình, thủ tục: Chuyển trọng tâm quy trình lập pháp từ việc thông qua cơ học sang giai đoạn phân tích chính sách và thẩm tra dự luật; chuẩn hóa kỹ thuật lập pháp; kéo dài thời gian làm việc tại các kỳ họp; nâng cao tính thực chất của hoạt động giám sát, chất vấn và lấy phiếu tín nhiệm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình: Do phạm vi nghiên cứu tập trung vào so sánh song diện giữa hai Quốc hội đại diện cho hai chính thể điển hình (cộng hòa tổng thống và cộng hòa XHCN), luận án chưa thể bao quát đối chiếu với các mô hình nghị viện thuộc chính thể cộng hòa đại nghị hoặc cộng hòa lưỡng tính. Luận án cũng giới hạn nghiên cứu ở ba nội dung trụ cột (địa vị pháp lí, cơ cấu tổ chức, quy trình thủ tục) mà chưa đi sâu vào từng lĩnh vực lập pháp chuyên ngành cụ thể.
Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu so sánh đa diện về tổ chức và hoạt động của nghị viện các nước theo các truyền thống pháp luật khác nhau; nghiên cứu sâu về kỹ thuật lập pháp hiện đại, cơ chế vận động hành lang (lobbying) và quy chế pháp lí đối với bộ máy tham mưu, giúp việc nghị viện trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về luật so sánh, luật hiến pháp và các lý thuyết về thiết chế đại nghị; đặc biệt là chương tổng quan tài liệu và chương cơ sở lí luận về quy luật vận động của Quốc hội.
- Đại biểu Quốc hội và cơ quan lập pháp: Cung cấp góc nhìn đối chiếu thực tiễn về kỹ năng hoạt động nghị trường, vai trò của đại biểu chuyên trách, quy trình làm việc tại các ủy ban và các công cụ giám sát, điều trần.
- Cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách và tổ chức lập hiến, lập pháp: Cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ việc sửa đổi Hiến pháp, sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện thể chế NNPQ XHCN Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án định nghĩa thuật ngữ "tham chiếu" như thế nào?
Dựa trên các từ điển tiếng Việt và tiếng Anh, tác giả khẳng định "tham chiếu" chính là "so sánh" nhưng gắn với mục đích thực tiễn rõ ràng. Tham chiếu là việc căn cứ, đối chiếu các hiện tượng pháp lí để tìm ra sự tương đồng, khác biệt và đánh giá tính hợp lí, nhằm phục vụ việc tham khảo, cân nhắc tiếp thu và ứng dụng vào việc hoàn thiện pháp luật quốc gia.
2. Năm đặc trưng mang tính quy luật của Quốc hội được luận án chỉ ra là gì?
Luận án chỉ ra năm đặc trưng: (1) Có nguồn gốc từ nhân dân và đại diện chính thức cho nhân dân; (2) Khẳng định chủ quyền nhân dân và tính hợp pháp của chính quyền; (3) Luôn nắm giữ chức năng lập pháp; (4) Là cơ quan dân chủ nhất và duy nhất có thành phần không thống nhất; (5) Giữ vai trò then chốt trong xác lập và thực thi các nguyên tắc của NNPQ.
3. Vì sao Quốc hội Mĩ được chọn làm đối tượng so sánh tham chiếu với Quốc hội Việt Nam?
Tác giả lựa chọn Quốc hội Mĩ dựa trên các căn cứ: Quốc hội Mĩ có lịch sử hơn 200 năm ổn định, mang tính chuyên nghiệp và thực quyền cao; là mô hình điển hình của sự phân quyền và kiểm soát quyền lực; thể hiện sinh động các giá trị của chủ nghĩa hợp hiến và NNPQ; việc tìm hiểu này đồng thời phục vụ chính sách đối ngoại và hợp tác song phương khi hai nước phát triển quan hệ.
4. Điểm khác biệt cơ bản về bối cảnh ra đời giữa Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam là gì?
Quốc hội Mĩ ra đời từ sự thỏa hiệp giữa các xu hướng chính trị và các bang thuộc địa, vận dụng thuyết phân quyền để hạn chế quyền lực nhà nước trung ương. Trong khi đó, Quốc hội Việt Nam ra đời từ thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, xuất phát từ nhu cầu thiết lập một chính phủ hợp pháp của toàn dân chứ không nhằm cạnh tranh quyền lực với quân vương.
5. Trọng tâm nghiên cứu so sánh của luận án được đặt vào nội dung nào?
Trọng tâm nghiên cứu so sánh của luận án là địa vị pháp lí của Quốc hội (vị trí, chức năng, quyền hạn, mối quan hệ với các nhánh quyền lực và đảng phái chính trị). Đây là nền tảng cốt lõi chi phối các phương diện kỹ thuật tiếp theo như cơ cấu tổ chức và quy trình, thủ tục hoạt động.
Kết luận
Luận án "Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam - Những vấn đề tham chiếu" của tác giả Nguyễn Quốc Văn là công trình nghiên cứu toàn diện, đặt nền tảng học thuật cho việc so sánh song diện giữa hai mô hình lập pháp thuộc hai chính thể khác biệt. Bằng phương pháp tiếp cận của Luật So sánh và Luật Hiến pháp, tác giả đã làm rõ các quy luật phổ quát của thiết chế đại diện, bối cảnh lịch sử và cấu trúc vận hành của từng Quốc hội. Các phát hiện và hệ thống kiến nghị trong luận án cung cấp luận cứ khoa học phục vụ yêu cầu đổi mới Quốc hội Việt Nam, đáp ứng tiến trình hoàn thiện Hiến pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.