Chương 1: Mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về phát triển rừng trồng sản xuất Chương 3: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu Chương 4: So sánh các phương án phát triển rừng trồng sản xuất c 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG SẢN XUẤT 2. Đặc điểm cơ bản của sản xuất lâm nghiệp.[11] Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất độc lập trong nền kinh tế quốc dân. Nghiên cứu các đặc điểm sản xuất để hoạch định chiến lược phát triển và qua đó đề ra các giải pháp quản lý, khai thác triệt để các nguồn lực nhằm hướng tới mục tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Sản xuất lâm nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau đây: 2.
Chu kỳ sản xuất dài Đối với lâm nghiệp, đối tượng sản xuất chính là rừng. Rừng là cơ thể sống, trong đó quần xã cây rừng đóng vai trò chủ đạo và chúng khác biệt với các loài thực vật khác là chu kỳ sinh trưởng kéo dài và phát triển chậm. Nếu tính chu kỳ thành thục tự nhiên phải hàng trăm năm, còn chu kỳ thành thục công nghệ cũng phải hàng chục năm trong khi đó chu kỳ sản xuất của một số sản phẩm thuộc ngành công nghiệp chỉ tính bằng giờ, bằng phút. Chu kỳ sản xuất dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tổ chức sản xuất, tình hình quản lý, sử dụng các yếu tố nguồn lực trong lâm nghiệp.
Trước hết là vốn đầu tư lớn, vốn bị ứ đọng ở sản phẩm dở dang nằm tại rừng, dưới dạng rừng non, rừng chưa thành thục công nghệ, do đó tốc độ chu chuyển chậm, thời hạn thu hồi lâu và thường hiệu quả đầu tư thấp. Quá trình tái sản xuất tự nhiên xen kẽ với quá trình tái sản xuất kinh tế, trong đó quá tình tái sản xuất tự nhiên đóng vai trò quan trọng và quyết định Trong sản xuất lâm nghiệp luôn luôn diễn ra hai quá trình xen kẽ, đó là quá trình tái sản xuất tự nhiên và quá trình tái sản xuất kinh tế. Tái sản xuất tự nhiên đó là quá trình sinh trưởng, phát triển của cây rừng bắt đầu từ quá trình c 7 gieo hạt tự nhiên, cây rừng nảy mầm, lớn lên, ra hoa kết quả rồi lại tiếp tục lặp đi lặp lại quá trình đó và tuân thủ theo quy luật sinh học. Như vậy, quá trình tái sản xuất tự nhiên là quá trình tái sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tuân theo quy luật sinh học mà không cần sự can thiệp của con người.
Tái sản xuất kinh tế được hiểu là quá trình lặp đi lặp lại sự phát triển của cây rừng dưới sự tác động của con người như bón phân, làm cỏ.(thâm canh rừng, làm giầu rừng) nhằm thoả mãn mục đích nào đó của con người. Tái sinh và khai thác rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tái sinh là quá trình xây dựng rừng. Khai thác rừng là quá trình lợi dụng rừng, quá trình thu hoạch thành quả của quá trình xây dựng rừng. Từ đặc điểm này đòi hỏi các nhà quản lý và các nhà kỹ thuật lâm nghiệp phải có giải pháp đúng đắn trong việc xây dựng cân đối giữa khai thác và tái sinh để khỏi lạm dụng vào vốn rừng và sử dụng công cụ khai thác hiệu quả trong công tác tái sinh rừng.
Sản xuất lâm nghiệp tiến hành trên quy mô rộng, chủ yếu hoạt động ngoài trời và trên những địa bàn có những điều kiện tự nhiên phức tạp, điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn Đây là đặc thù rất rõ nét của sản xuất lâm nghiệp. Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích có rừng là 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc là đối tượng của sản xuất lâm nông nghiệp. Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của 25 triệu người với nhiều dân tộc ít người, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn.[4] Trên các điều kiện tự nhiên đó, hoạt động sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tiến hành ở ngoài trời, cự ly hoạt động ngày một xa. nên thu nhập thấp, đời sống của người làm nghề rừng gặp rất nhiều khó khăn.
Đồng thời, địa bàn rộng c 8 lớn như vậy rất khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ thành quả lao động, do đó tính rủi ro trong sản xuất lâm nghiệp rất cao. Sản xuất lâm nghiệp có tính thời vụ Trong sản xuất lâm nghiệp, tính thời vụ là đặc trưng của ngành sản xuất sinh học. Do đặc tính sinh lý, sinh thái của cây rừng, do đòi hỏi của công nghệ (đặc biệt là công nghệ khai thác, vận chuyển) mà tình hình sản xuất diễn ra tập trung vào một số tháng trong năm, hiện tượng đó được gọi là tính thời vụ. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp vừa mang mục tiêu kinh tế vừa mang mục tiêu xã hội Trước hết, mục tiêu kinh tế của sản xuất lâm nghiệp là cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản, cung cấp lâm sản, đặc sản,.
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Về mục tiêu xã hội, sản xuất lâm nghiệp là phòng hộ, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ di tích lịch sử, cảnh quan văn hoá và các danh lam thắng cảnh,. Mặc dù hiện nay người ta đã quan tâm nhiều hơn tới giá trị gián tiếp của rừng (giá trị phi vật thể) song vấn đề đặt ra đối với người quản lý là phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ giá trị của rừng mà quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa cho phát triển lâm nghiệp. Đây cũng là vấn đề được quan tâm trong chiến lược phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước.
Sản xuất lâm nghiệp vừa mang tính chất hoạt động sản xuất nông nghiệp vừa mang tính chất hoạt động sản xuất công nghiệp và xây dựng cơ bản Sản xuất lâm nghiệp có nhiệm vụ trồng cây, gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng, khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng. Trong các nhiệm vụ trên, nhiệm vụ trồng cây, gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng là hoạt động mang tính sinh học và có tính chất hoạt động giống như hoạt động nông nghiệp. c 9 Nhiệm vụ tiếp theo của sản xuất lâm nghiệp là khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng, đây là các hoạt động có tính chất công nghiệp. Ngoài ra, do đặc thù của sản xuất lâm nghiệp là chu kỳ sản xuất dài, vốn hoạt động chủ yếu là vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản, về hình thức và phương pháp hạch toán đều có nét giống như hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
Sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sâu sắc và nhiều thành phần kinh tế tham gia Với địa bàn hoạt động gần 60% diện tích tự nhiên toàn quốc là nơi sinh sống của các cộng đồng cư dân mà đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người, nên mọi hoạt động của cư dân địa phương đều ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển lâm nghiệp và ngược lại các hoạt động sản xuất lâm nghiệp đều ảnh hưởng lớn đến đời sống của cư dân địa phương. Đặc điểm này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tổ chức sản xuất, đặc biệt là công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Xuất phát từ đặc thù trên, vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý, trước hết phải tôn trọng các phong tục và kiến thức bản địa. Sản xuất lâm nghiệp luôn luôn phải tính đến lợi ích và bảo vệ lợi ích của cộng đồng địa phương.
Vì vậy, có thể nói sự phát triển của ngành lâm nghiệp không thể tách rời sự phát triển tổng hợp về kinh tế văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng của trung du, miền núi. Cơ sở khoa học của phát triển cây gỗ lớn 2. Khái niệm và các mô hình trồng rừng sản xuất - Cây gỗ lớn là những cây thân gỗ có thân chính rõ ràng, dài, phân cành xa mặt đất, cây cao, là thành phần chính của rừng và là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngành lâm nghiệp. - Theo tiêu chuẩn Châu Âu thì gỗ lớn là gỗ có kích thước đường kính đầu nhỏ lớn hơn 25 cm (không kể vỏ).
c 10 Trong đề tài nghiên cứu này, Gỗ lớn là gỗ có đường kính đầu nhỏ từ 20cm trở lên dùng trong sản xuất gỗ sẻ, đồ mộc, đồ nội thất. Gỗ nhỏ là những loại gỗ dùng cho công nghiệp giấy, gỗ trụ mỏ, gỗ dùng làm ván dăm, ván nhân tạo,. Hiện nay có nhiều mô hình trồng rừng sản xuất khác nhau như trồng thuần loài, trồng hỗn loài, trồng xen với cây nông nghiệp trong giai đoạn đầu như trồng xen sắn, trồng xen với cây công nghiệp như chè. Cơ sở lâm sinh học của việc phát triển rừng nguyên liệu gỗ lớn.
Là đối tượng của quản lý lâm nghiệp nhưng rừng vẫn chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên. Điều này được thể hiện thông qua quan hệ giữa sản lượng cây đứng và tuổi cây (Hình 2. Sản lượng cây đứng trên một đơn vị diện tích (ha), V(t), tăng với tốc độ chậm trong những năm đầu sau khi trồng hay tái sinh, tăng nhanh đến thời điểm tx và sau đó tăng chậm lại cho đến khi đạt cực đại tại te (te còn được gọi là tuổi thành thục tự nhiên). Sau thời điểm này, cây rừng bắt đầu già cỗi và xuống cấp do các yếu tố như tuổi cao, sâu bệnh,.
Sản lượng (m3/ha) V(te) V(tx) tx te Tuổi (năm) Hình 2.1: Quan hệ giữa sản lượng cây đứng và tuổi cây c 11 Đối với các loài cây mọc nhanh sử dụng trong trồng rừng, t e có thể rất ngắn, thậm chí chỉ 7 - 8 năm. Tuy nhiên, các loài cây mọc trong rừng tự nhiên lại có thời gian te dài hơn nhiều, thậm chí hàng trăm năm. Trong thực tiễn, quá trình sinh trưởng này có thể được điều chỉnh bằng các biện pháp lâm sinh như: chọn mật độ tối ưu, bón phân, tỉa thưa và phòng chống sâu bệnh, vv… nhằm rút ngắn thời gian thành thục của cây rừng (tức là tuổi cho sản phẩm phù hợp với mục đích kinh doanh). Điều này có nghĩa là đồ thị biểu diễn quan hệ sản lượng và tuổi cây có thể dịch chuyển theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mức độ can thiệp của con người.