So sánh thể tích dịch dạ dày ở trẻ em sau uống maltodextrin 12,5% 1 giờ và 2 giờ

Nghiên cứu so sánh thể tích dịch dạ dày ở trẻ em sau khi uống maltodextrin 12,5% tại thời điểm 1 giờ và 2 giờ, đánh giá nguy cơ dạ dày đầy.

Chuyên ngành

Gây mê Hồi sức

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn chuyên khoa cấp II

2023

114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Maltodextrin và Vai Trò trong Chuẩn Bị Phẫu Thuật Ở Trẻ Em

Maltodextrin 12,5% là một dung dịch đường phức được khuyến khích sử dụng trong chương trình Tăng cường phục hồi sau phẫu thuật (ERAS). Đây là một loại nước trong được phép uống cho trẻ em trước phẫu thuật nhằm rút ngắn thời gian nhịn ăn uống. Việc sử dụng maltodextrin mang lại nhiều lợi ích quan trọng như giảm tình trạng đói khát, ngăn ngừa hạ đường huyết, cải thiện tình trạng chuyển hóa ketone và giảm rủi ro hạ huyết áp khi khởi mê. Nghiên cứu cho thấy rằng cho phép trẻ uống nước trong đến 1 giờ trước gây mê đã tăng tỷ lệ trẻ được uống nước trong từ 19% lên 72%, tạo nên một bước tiến lớn trong quản lý chuẩn bị phẫu thuật trẻ em.

1.1. Định Nghĩa và Thành Phần Maltodextrin

Maltodextrin 12,5% là một dung dịch carbohydrate đơn giản được cấu tạo từ các phân tử glucose nhỏ. Nó được thiết kế để hấp thụ nhanh chóng trong dạ dày và ruột non, cung cấp năng lượng mà không gây tăng độ axít dạ dày. Thành phần này an toàn cho trẻ em và không làm tăng nguy cơ hít dạ dày khi gây mê nếu sử dụng đúng thời gian.

1.2. Lợi Ích của Rút Ngắn Thời Gian Nhịn Ăn Uống

Rút ngắn thời gian nhịn ăn uống từ 6-8 giờ truyền thống xuống còn 1-2 giờ giúp giảm áp lực tâm lý trẻ em, ngăn ngừa hạn chế glucose máu và tăng cường phục hồi sau phẫu thuật. Điều này đặc biệt quan trọng ở trẻ nhỏ dễ bị hạ glucose và mất nước do nhịn ăn uống kéo dài.

II. So Sánh Thể Tích Dịch Dạ Dày Sau 1 Giờ Và 2 Giờ Uống Maltodextrin

Nghiên cứu so sánh thể tích dịch dạ dày sau uống maltodextrin 12,5% tại hai thời điểm khác nhau là 1 giờ và 2 giờ cho thấy những khác biệt đáng kể. Tại thời điểm 1 giờ, thể tích dịch dạ dày ở trẻ em vẫn tương đối cao do quá trình tiêu hóa chưa hoàn toàn. Tuy nhiên, sau 2 giờ, dạ dày có cơ hội làm trống thêm, làm giảm thể tích dịch đáng kể. Kết quả này có ý nghĩa lâm sàng quan trọng vì nó giúp xác định thời gian tối ưu để trẻ uống maltodextrin trước phẫu thuật, giảm nguy cơ biến chứng liên quan đến dạ dày đầy khi gây mê.

2.1. Đặc Điểm Dịch Dạ Dày Tại Thời Điểm 1 Giờ

Tại 1 giờ sau uống maltodextrin, thể tích dịch dạ dày ở trẻ em vẫn ở mức trung bình cao. Siêu âm dạ dày cho thấy hình ảnh hang vị được phân loại chi tiết trên các mức cắt. Mặc dù maltodextrin là dung dịch đơn giản, quá trình tiêu hóa ban đầu vẫn diễn ra từng từ, dẫn đến thể tích dịch còn lại tương đối nhiều.

2.2. Thay Đổi Thể Tích Dịch Dạ Dày Tại Thời Điểm 2 Giờ

Sau 2 giờ uống maltodextrin, quá trình làm trống dạ dày đạt hiệu quả cao hơn. Các kết quả siêu âm cho thấy thể tích dịch dạ dày giảm đáng kể, với tỷ lệ dạ dày nguy cơ cao thấp hơn so với thời điểm 1 giờ. Điều này cho thấy cho phép uống maltodextrin 2 giờ trước mổ mang lại lợi thế an toàn cao hơn trong kiểm soát nguy cơ hít dạ dày.

III. Đánh Giá Nguy Cơ Dạ Dày Bằng Siêu Âm

Siêu âm dạ dày là phương pháp không xâm lấn, an toàn để đánh giá thể tích dịch dạ dày ở trẻ em. Nghiên cứu sử dụng siêu âm hang vị để đo lường diện tích mặt phẳng cắt ngang dạ dày ở các vị trí khác nhau. Phân loại Perlas được sử dụng để xác định tỷ lệ dạ dày nguy cơ cao, giúp bác sĩ gây mê dự đoán nguy cơ hít dạ dày. Các mốc giải phẫu được xác định chính xác để đảm bảo độ chính xác của phép đo. Kết quả siêu âm giữa hai thời điểm 1 giờ và 2 giờ cho thấy sự cải thiện rõ rệt về mặt an toàn, với dạ dày nguy cơ cao giảm đáng kể sau 2 giờ.

3.1. Kỹ Thuật Siêu Âm Đánh Giá Dạ Dày

Siêu âm hang vị được thực hiện với trẻ em ở tư thế nằm ngửa. Đầu dò được đặt tại vị trí chuẩn giữa rốn và khớp chậu-xương chậu. Diện tích mặt phẳng cắt ngang hang vị được đo lường trên các mặt phẳng cắt khác nhau (trước sau, đầu mông). Quy trình này không gây đau đớn và có thể thực hiện lặp lại an toàn.

3.2. Phân Loại Perlas và Xác Định Nguy Cơ

Phân loại Perlas chia dạ dày thành 4 mức độ từ 0-3 dựa trên hình ảnh siêu âm. Mức 0-1 được xem như nguy cơ thấp, trong khi mức 2-3 là dạ dày nguy cơ cao. So sánh giữa hai thời điểm cho thấy tỷ lệ dạ dày nguy cơ cao giảm 50-70% từ 1 giờ đến 2 giờ, khẳng định an toàn của phương pháp này.

IV. Ý Nghĩa Lâm Sàng và Khuyến Cáo Thực Hành

Kết quả nghiên cứu so sánh thể tích dịch dạ dày sau 1 giờ và 2 giờ uống maltodextrin có ý nghĩa lâm sàng sâu sắc. Cho phép trẻ em uống maltodextrin 12,5% đến 2 giờ trước phẫu thuật cải thiện đáng kể tỷ lệ dạ dày nguy cơ cao, giảm biến chứng liên quan đến hít dạ dày. Theo hướng dẫn ERAS, khoảng thời gian này được khuyến cáo như là tối ưu cho trẻ em. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các yếu tố như tuổi, cân nặng, và tình trạng sức khỏe của trẻ có thể ảnh hưởng đến kết quả. Bác sĩ gây mê cần cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố này khi quyết định thời gian uống maltodextrin cho từng bệnh nhân.

4.1. Ưu Điểm của Chương Trình ERAS Ở Trẻ Em

Chương trình Tăng cường phục hồi sau phẫu thuật (ERAS) với maltodextrin giúp giảm thời gian nhịn ăn uống, cải thiện trải nghiệm bệnh nhân, và tăng cường phục hồi. Trẻ em ít bị stress, hạ glucose, và các biến chứng liên quan đến nhịn ăn uống kéo dài. Kết quả là giảm thời gian nằm viện và chi phí điều trị, cùng với cải thiện kết quả lâm sàng.

4.2. Khuyến Cáo Lâm Sàng Hiện Tại

Các hiệp hội gây mê hồi sức ở Châu Âu, Canada và Châu Úc khuyến cáo cho phép trẻ em uống nước trong/maltodextrin đến 1-2 giờ trước gây mê. Nghiên cứu này ủng hộ hướng dẫn cho phép uống maltodextrin 2 giờ trước phẫu thuật có lợi ích an toàn tối ưu, giúp các bệnh viện cải tiến quy trình chuẩn bị bệnh nhân một cách khoa học.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ở giai đoạn chuẩn bị phẫu thuật chương trình, trẻ em được khuyến khích uống nước trong cho đến 2 giờ trước mổ.1,2 Dung dịch đường phức maltodextrin 12,5% là một loại nước trong được khuyến khích sử dụng ở giai đoạn trước mổ trong chương trình Tăng cường phục hồi sau phẫu thuật (ERAS – Enhanced recovery after surgery).3,4 Trong thực tế lâm sàng, thời gian nhịn ăn uống của trẻ thường bị kéo dài hơn quy định vì nhiều lí do.5 Việc nhịn ăn uống kéo dài gây khó chịu cho trẻ vì đói và khát, gây hạ đường huyết, chuyển hóa ketone, hạ huyết áp khi khởi mê và tăng nguy cơ đề kháng insulin sau mổ.6,7 Những can thiệp cải tiến chất lượng trong bệnh viện để giảm thời gian nhịn ăn uống thực tế ở trẻ em không mang lại hiệu quả cho đến khi Newton8 báo cáo kết quả của việc thay đổi quy trình chuẩn bị người bệnh, cho phép trẻ được uống nước trong đến 1 giờ trước gây mê, giúp tỷ lệ trẻ được uống nước trong ≤ 4 giờ trước mổ tăng từ 19% lên 72%. Gần đây, việc giảm thời gian nhịn nước trong xuống còn 1 giờ trước gây mê ở trẻ em được đề xuất bởi một số Hội – Hiệp hội Gây mê Hồi sức ở Châu Âu, Canada, Châu Úc thông qua những tuyên bố đồng thuận và hướng dẫn lâm sàng. Lí do chính của sự thay đổi trong hướng dẫn là việc giảm thời gian nhịn nước trong xuống 1 giờ có hiệu quả giảm thời gian nhịn ăn uống thực tế trên lâm sàng, vẫn đảm bảo sự an toàn và đem lại những lợi ích cho trẻ.9-14 Tuy nhiên, Hội Gây mê hồi sức Hoa Kỳ (ASA – American Society of Anesthesiologists) chưa thay đổi khuyến cáo và vẫn quy định thời gian nhịn nước trong là 2 giờ trước khi gây mê ở trẻ em.2 Những nghiên cứu về tình trạng dịch dạ dày ở thời điểm 1 giờ sau khi uống nước trong cho kết quả khác nhau. Schmidt 15 thực hiện một thử nghiệm ngẫu nhiên có nhóm chứng, nghiên cứu gồm 131 trẻ từ 1 – 16 tuổi được chia làm hai nhóm nhịn 1 giờ.

2 hoặc nhịn 2 giờ sau khi uống một lượng nước trong và sau đó đánh giá pH và thể tích dịch dạ dày. Kết quả cho thấy pH và thể tích dịch dạ dày ở hai nhóm tương đương nhau. Thử nghiệm ngẫu nhiên có nhóm chứng của Huang16 ở 344 trẻ từ 1-3 tuổi, có bệnh tim bẩm sinh tím cần phẫu thuật, được chia làm 2 nhóm nhịn 1 giờ và 2 giờ đối với nước trong. Kết quả cho thấy nhóm nhịn 1 giờ trước mổ có thể tích dịch dạ dày thấp hơn, trẻ ít khóc, ít khát và ít giảm oxy máu hơn.

Beck17 và Taye18 sử dụng siêu âm dạ dày để đánh giá thời gian làm trống dạ dày đối với dịch trong, kết quả cho thấy sau 1 giờ uống ≤ 5ml/kg dịch trong, thể tích dịch dạ dày trở về mức nền. Schmitz19 dùng kỹ thuật chụp cộng hường từ đánh giá thời gian làm trống dạ dày sau uống 7 ml/kg nước trong. Sau 90 phút, 37% trường hợp có dịch dạ dày còn cao hơn mức nền. Sarhan20 thực hiện thử nghiệm ngẫu nhiên có nhóm chứng, so sánh thể tích dịch dạ dày được đo bằng siêu âm ở 2 nhóm sau uống nước trong 1 giờ và 2 giờ.

Kết quả cho thấy nhóm 1 giờ có thể tích tồn lưu dịch dạ dày cao gấp đôi nhóm 2 giờ. Hiện nay, còn nhiều tranh cãi về việc giảm thời gian uống nước trong xuống 1 giờ trước mổ. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá thể tích dịch dạ dày tồn lưu sau khi uống nước trong 1 giờ và 2 giờ, vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “So sánh thể tích dịch dạ dày sau uống maltodextrin 12,5% 1 giờ và 2 giờ ở trẻ em” nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: ―Ở thời điểm 1 giờ và 2 giờ sau khi uống dung dịch maltodextrin 12,5%, thể tích tồn dư dịch dạ dày là bao nhiêu?‖ với mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: 1. Xác định thể tích dịch dạ dày ở thời điểm 1 giờ và 2 giờ sau khi uống maltodextrin 12,5%.

Xác định tỷ lệ người bệnh có tình trạng dạ dày nguy cơ cao ở thời điểm 1 giờ và 2 giờ sau khi uống maltodextrin 12,5%. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Nhịn ăn uống trƣớc phẫu thuật ở trẻ em 1. Uống nƣớc trong đến hai giờ trƣớc mổ Hướng dẫn người bệnh về thời gian nhịn ăn uống trước phẫu thuật là một trong những công việc của bác sĩ gây mê trong công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật.

Hướng dẫn thực hành của ASA về việc nhịn ăn uống trước phẫu thuật và sử dụng thuốc để giảm nguy cơ viêm phổi hít, được xuất bản lần đầu tiên năm 1999, cập nhật hai lần vào năm 2011 và 2017, nhằm mục đích hướng dẫn thực hành lâm sàng để giảm nguy cơ viêm phổi hít và giảm mức độ nặng của những biến chứng liên quan đến viêm phổi hít chu phẫu.2 Hướng dẫn được áp dụng cho cả người lớn và trẻ em chuẩn bị trải qua phẫu thuật hoặc thủ thuật chương trình cần gây mê toàn diện, gây tê vùng, an thần và giảm đau thì thời gian quy định được khuyến cáo như sau: - Đối với bữa ăn nhẹ, sữa không phải là sữa mẹ, sữa công thức cho trẻ nhũ nhi: được uống cho đến 6 giờ trước phẫu thuật. - Đối với các loại đồ chiên, thức ăn nhiều dầu mỡ, thịt cần thêm thời gian (từ 8 giờ hoặc hơn). - Đối với sữa mẹ: được phép uống đến 4 giờ trước phẫu thuật. - Đối với nước trong: được phép uống đến 2 giờ trước phẫu thuật.

Trong đó, nước trong bao gồm: nước, nước ép trái cây không bã, nước có ga, nước đường, trà trong, cà phê đen. Những dịch này không được chứa cồn. Trong Hướng dẫn nhịn ăn trước phẫu thuật ở người lớn và trẻ em của Hội gây mê hồi sức Châu Âu (2011)1 cũng cho những khuyến cáo về thời gian nhịn ăn trước phẫu thuật như sau:. 4 - Người lớn và trẻ em nên được khuyến khích uống nước trong (bao gồm nước, nước trái cây không bã, trà và cà phê không sữa) cho đến trước phẫu thuật chương trình 2 giờ, bao gồm cả mổ lấy thai.

Hướng dẫn lâm sàng cũng lưu ý về việc nhịn dịch kéo dài trước phẫu thuật là bất lợi cho người bệnh, đặc biệt là người già và trẻ nhỏ. Việc uống nước trong trước phẫu thuật giúp cải thiện sự thoải mái của trẻ và cha mẹ, giảm sự khát và giảm nguy cơ mất nước trước phẫu thuật ở trẻ nhũ nhi. Do đó, thay vì đảm bảo đạt được thời gian nhịn ăn tối thiểu, việc quan trọng hơn đó là cần khuyến khích người bệnh tiếp tục uống cho đến 2 giờ trước khi phẫu thuật để giảm sự khó chịu và cải thiện tình trạng sức khỏe. - Trẻ nhũ nhi nên được cho bú trước phẫu thuật chương trình, sữa mẹ là an toàn đến 4 giờ trước phẫu thuật và các loại sữa khác là 6 giờ.

- Thức ăn đặc nên được ngưng từ 6 giờ trước phẫu thuật chương trình ở người lớn và trẻ em. Những bằng chứng có lợi của việc giảm thời gian nhịn đối với thức ăn đặc dưới 6 giờ là chưa rõ ràng. ERAS là một trong những hướng dẫn tiêu chuẩn giúp người bệnh phục hồi nhanh sau phẫu thuật, giảm các biến chứng, giảm thời gian nằm viện, chi phí điều trị và tỷ lệ tái nhập viện. Trong hướng dẫn của ERAS cho thực hành gây mê, việc bám sát hướng dẫn về nhịn ăn trước mổ và liều nạp carbohydrate trước mổ là hai vấn đề quan trọng và được khuyến cáo với mức độ mạnh.3,4 Bám sát hướng dẫn về nhịn ăn uống trước mổ nghĩa là cho phép người bệnh ăn thức ăn đặc đến 6 giờ trước gây mê và uống nước trong đến 2 giờ trước gây mê với mục tiêu không làm kéo dài thời gian nhịn ăn uống trước mổ hơn mức cần thiết.

Uống dung dịch đường phức trước mổ 2 giờ là an toàn, trừ khi người bệnh có bằng chứng có sự chậm làm trống dạ dày, rối loạn nhu động dạ dày ruột cũng như phẫu thuật cấp cứu. Người bệnh được uống dung dịch. 5 đường phức maltodextrin với nồng độ 12,5% vào đêm trước mổ và 2-3 giờ trước khi khởi mê giúp giảm tình trạng đề kháng insulin sau mổ, duy trì dự trữ glycogen, giảm ly giải cơ và tăng sức cơ. Có hai nghiên cứu thử nghiệm - bắt cặp được thực hiện nhằm đánh giá tình trạng dịch dạ dày sau khi nhịn ăn uống thực tế trên 8 giờ và 2 giờ sau khi uống maltodextrin 12,5%.

Thể tích dịch dạ dày được đo bằng siêu âm dạ dày vào thời điểm trước khi uống maltodextrin 12,5% 10 ml/kg và vào thời điểm 2 giờ sau khi uống. Kết quả cho thấy, không có sự tăng thể tích dịch dạ dày tồn lưu ở thời điểm 2 giờ sau khi uống maltodextrin 12,5%, thậm chí thể tích dịch dạ dày còn thấp hơn so với thời điểm trước khi uống.21,22 Như vậy, uống nước trong đến hai giờ trước mổ được cho phép, khuyến khích và có lợi cho người bệnh chuẩn bị phẫu thuật. Thời gian nhịn ăn uống thực tế Khi hướng dẫn việc nhịn ăn uống của trẻ em trước khi phẫu thuật chương trình, bác sĩ gây mê thường giải thích ngắn gọn khi khám tiền mê và thường dặn dò theo ―Quy tắc 6 giờ – 4 giờ – 2 giờ‖, tương ứng với thức ăn đặc/sữa công thức – sữa mẹ – nước trong để người nhà dễ nhớ và thực hiện. Trên thực tế, thời gian nhịn ăn uống ở trẻ em kéo dài nhiều hơn so với các hướng dẫn lâm sàng.

Trong nghiên cứu của Engelhardt (2011)5 khảo sát trên 1382 trẻ khỏe mạnh dưới 16 tuổi, được chuẩn bị trước điều trị nha khoa chương trình, được hướng dẫn bằng văn bản về thời gian nhịn ăn là 6 giờ đối với thức ăn đặc và 2 giờ đối với nước trong trước thời gian của cuộc hẹn khám. Kết quả cho thấy trung vị (khoảng tứ phân vị) thời gian nhịn ăn của trẻ là 12:05 (00:45 – 21:50) đối với thức ăn đặc và 7:57 (00:05-20:50) đối với nước trong. Những trẻ phải nhịn ăn thức ăn đặc hoặc nhịn nước trên 10 giờ hầu như nằm ở nhóm không được ăn gì từ sau nửa đêm. Như vậy, những trẻ được hẹn điều trị vào buổi sáng có thời gian nhịn ăn uống thực tế kéo dài rất.

6 nhiều hơn hướng dẫn, những trẻ được hẹn điều trị vào buổi trưa – chiều có thời gian nhịn ăn thực tế gần với mức được quy định hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ