CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài Sở hữu gia đình trong một doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng vì những quyết định thành công hay thất bại của một chính sách kinh doanh hay quản trị tài chính nào đó được đưa ra từ một hay vài người nắm trong tay quyền sở hữu, dẫn đến hiệu quả hoạt động hay gia tăng giá trị của doanh nghiệp cũng tỷ lệ theo những quyết định này. Ở các quốc gia có hệ thống pháp luật chặt chẽ, quyền lợi của nhà đầu tư được bảo vệ tối đa, ở các nước khi mà hệ thống pháp luật về tài chính còn chưa hoàn thiện như nước ta thì vấn đề giao dịch nội bộ giữa các người có liên quan trong một doanh nghiệp khi họ có những thông tin có lợi hay bất lợi là điều cần phải nghiên cứu. Đa phần những giao dịch nội bộ, giao dịch cổ đông lớn hay giao dịch của các bên liên quan có "vấn đề" đều xuất hiện ở những doanh nghiệp hoặc thua lỗ, hoặc có vướng mắc trong hoạt động kinh doanh.
Dưới góc độ nhà đầu tư, khi đầu tư số tiền nhàn rỗi vào một cổ phiếu của một doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch nhằm tìm kiếm chút lãi thì ngoài niềm tin rằng về mặt pháp lý các doanh nghiệp ấy đã tuân thủ mọi quy định của pháp luật thì cũng cần phải biết đến vấn đề sở hữu của doanh nghiệp đó ra sao, hiệu quả hoạt động đến từ đâu, do ai. Những điều ít ai quan tâm đến đôi khi làm ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được cho các nhà đầu tư bên ngoài. Để biết được các giao dịch nội bộ, giao dịch cổ đông lớn, ngoài chuyên môn, rất cần kinh nghiệm, đặc biệt trong việc đánh giá thực trạng doanh nghiệp. Trong những bài nghiên cứu trên Thế giới, chúng ta thấy rằng những doanh nghiệp hàng đầu được kiểm soát bởi những người sáng lập, hoặc bởi các gia đình và người thừa kế của họ.
Quyền sở hữu gia đình như vậy là gần như phổ quát trong các công ty tư nhân, và cũng chiếm ưu thế trong số các công ty đại chúng. Ở Tây Âu, Nam và Đông Á, Trung Đông, Mỹ Latinh và Châu Phi, đại đa số các doanh nghiệp đại chúng đều do gia đình kiểm soát (La Porta, Silanes, và Shleifer, 1999; Claessens, 2 Djankov, và Lang, 2000. Ngay cả ở Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, một số doanh nghiệp đại chúng lớn nhất, như Wal-Mart Stores và Ford Motor, được kiểm soát bởi các gia đình. Sự bền vững và thành công của công ty gia đình là điều cần thiết cho sự phát triển kinh tế.
Người ta đã lập luận rằng các công ty gia đình có những đặc điểm độc đáo mang đến những lợi thế tiềm năng so với các công ty khác về hiệu quả và khả năng cạnh tranh (Anderson và Reeb, 2003a; Hoffmann và ctg, 2016), sự tồn tại và tuổi thọ (Miller và ctg, 2008 ; Revilla và ctg, 2016), các hoạt động giao tiếp (Aldrich và Cliff, 2003; Carsrud và Cucculelli, 2014) và đổi mới đầu ra (Duran và ctg, 2016; Matzler và ctg, 2015). Tuy nhiên, một thách thức chính đối với các doanh nghiệp gia đình là tiếp cận nguồn tài trợ (Michiels và Molly, 2017). Vì các công ty như vậy cũng thường miễn cưỡng sử dụng nguồn vốn bên ngoài (Croce và Martí, 2016; Koropp và cộng sự, 2014), có nguy cơ phát triển cấu trúc vốn không thể hỗ trợ tăng trưởng. Do đó, một ưu tiên nghiên cứu quan trọng là đầu tư vào hành vi tài chính của công ty gia đình và liệu có khác với các công ty phi gia đình hay không do các đặc điểm cụ thể của gia đình Có bằng chứng liên quan đến tác động của sở hữu gia đình đối với các quyết định tài chính là hỗn hợp giữa nợ và vốn.
Cho đến nay, bằng chứng từ các nghiên cứu chỉ ra điều đó: (a) Agrawal và Nagarajan (1990) phát hiện ra rằng các công ty niêm yết ở Mỹ thể hiện sự tham gia của gia đình rộng rãi hơn so với các công ty có đòn bẩy. McConaughy và cộng sự. (2001) đã quan sát mức nợ hợp lý nhiều hơn trong các công ty gia đình lớn ở Hoa Kỳ; (b) Coleman và Carsky (1999) đã tìm thấy một số khác biệt giữa các doanh nghiệp nhỏ thuộc sở hữu gia đình và không thuộc sở hữu gia đình ở Hoa Kỳ trong việc sử dụng các sản phẩm tín dụng khác nhau. Anderson và Reeb (2003b) đã báo cáo rằng các công ty gia đình trong danh sách Standard và Poor's 500 (S & P 500) sử dụng mức nợ tương tự với các công ty phi gia đình; và (c) King và Santor (2008) phát hiện ra rằng các công ty gia đình niêm yết ở Canada thể hiện đòn bẩy tài chính cao hơn so với các đối tác ngoài gia đình.
Schmid (2013) đã tìm thấy một kết quả tương tự đối với một số quốc gia ở Đông Á và Tây Âu. Những phát hiện mâu thuẫn này có thể là do nhiều lý do, chẳng hạn như việc sử dụng các 3 định nghĩa khác nhau của các công ty gia đình, bối cảnh kinh tế và thể chế và tiêu chí quy mô khác nhau. Trong điều kiện nền kinh tế đang từng bước chuyển biến, hội nhập toàn cầu, không thể không kể đến vai trò của các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế ngoài nhà nước hiện nay. Và trong đó, công ty gia đình là một mô hình quan trọng trong vận hành nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới.
Tại Việt Nam cũng vậy, các công ty gia đình cũng đóng góp lớn vào sự thay đổi bộ mặt nền kinh tế Việt Nam. Các công ty gia đình hùng mạnh, nổi tiếng tại Việt Nam mà danh tiếng, thương hiệu của họ đã khá quen thuộc với người tiêu dùng trong nước. Đáng chú ý, các doanh nghiệp này tồn tại cấu trúc vốn bất hợp lý gây ra tình trạng hoạt động kinh doanh kém hiệu quả. Việc nghiên cứu tác động của sở hữu gia đình, cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng.
Vì những lý do trên, học viên chọn “Sở hữu gia đình – cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm bài nghiên cứu cho luận văn. Tổng quan nghiên cứu Các nghiên cứu nước ngoài về sở hữu gia đình gia đình và cấu trúc vốn tiêu biểu như King và Santor, 2008. Nghiên cứu xem xét mức độ sở hữu gia đình ảnh hưởng đến hiệu suất và cấu trúc vốn của 613 công ty Canađa từ năm 1998 đến năm 2005. Đặc biệt, họ phân biệt tác động của sở hữu gia đình với việc sử dụng các cơ chế tăng cường kiểm soát.
Sử dụng phương pháp hồi qui POLS, RE và hai cách đo lường khác nhau để kiểm định hiệu quả hoạt động doanh nghiệp như là biến phụ thuộc: biến Tobin’s q đại diện cho hiệu quả thị trường và ROA đại diện cho hiệu quả kế toán, mô hình 1, biến độc lập là phần trăm sở hữu doanh nghiệp gia đình và các biến kiểm soát là qui mô, tăng trưởng đòn bẩy tài chính, tuổi đời. Ở mô hình 2, kiểm định tác động sở hữu đến cấu trúc vốn thì đòn bẩy tài chính là biến phụ thuộc, được đo lường bằng tổng nợ trên tổng tài sản (bao gồm nợ ngắn hạn và dài hạn), các biến độc lập và kiểm soát tương tự mô hình 1. Kết quả cho rằng các công ty gia đình tự do với một nhóm cổ phần duy nhất có hiệu suất thị trường tương tự như các công ty khác dựa trên tỷ lệ Tobin q, hiệu suất kế toán vượt trội dựa trên ROA. 4 Margaritis và Psillaki (2010) sử dụng phương pháp phi tham số bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis – DEA) nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, cơ cấu sở hữu và hoạt động của doanh nghiệp bằng cách sử dụng một mẫu của các công ty sản xuất của Pháp.
Sử dụng các đo lường này, họ kiểm định xem các công ty hiệu quả hơn có chọn nhiều hay ít nợ trong cơ cấu vốn của họ. Họ tóm tắt những tác động tương phản của hiệu quả đối với cấu trúc vốn theo hai giả thuyết cạnh tranh: giả thuyết hiệu quả - rủi ro và giá trị nhượng quyền. Sử dụng hồi quy phân vị, với biến phụ thuộc là đòn bẩy tài chính, các biến độc lập là tỷ lệ sở hữu, tài sản hữu hình, qui mô doanh nghiệp, tăng trưởng, cũng như có biến trễ của hiệu quả hoạt động, kiểm tra ảnh hưởng của hiệu quả đến đòn bẩy và do đó tính hợp lệ theo kinh nghiệm của hai giả thuyết cạnh tranh trên các lựa chọn cấu trúc vốn khác nhau. Đồng thời cũng kiểm tra mối quan hệ trực tiếp từ đòn bẩy đến hiệu quả được quy định bởi mô hình chi phí đại diện của Jensen và Meckling (1976).
Trong suốt phân tích, họ xem xét vai trò của cấu trúc sở hữu đối với cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, xem xét cả tác động của đòn bẩy đối với hoạt động của doanh nghiệp cũng như mối quan hệ nhân quả trong khi kiểm soát tác động của cấu trúc sở hữu và loại hình sở hữu. Họ tìm thấy sự ủng hộ cho giả thuyết chi phí đại diện của Jensen và Meckling (1976), trong đó đòn bẩy cao hơn có liên quan đến cải thiện hiệu quả trên toàn bộ phạm vi dữ liệu quan sát được. Marcelo, Quiros và Lisboa (2014) nghiên cứu này nhằm đánh giá sự khác biệt về hiệu suất giữa các công ty gia đình và phi gia đình, tại thị trường chứng khoán Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Dữ liệu bao gồm 230 (50 của Bồ Đào Nha và 180 của Tây Ban Nha) từ 1999 đến 2008, sử dụng phương pháp GMM với các biến phụ thuộc là Tobin’s q, ROA và các biến độc lập là đặc tính của doanh nghiệp như tuổi đời, qui mô, đòn bẩy.
Kết quả cung cấp bằng chứng mới cho lĩnh vực này vì tính đến sự không đồng nhất giữa các công ty gia đình. Bài viết cho rằng sự lãnh đạo tại các công ty gia đình, quy mô và tuổi là điều tiết mối quan hệ giữa kiểm soát gia đình và hoạt động của công ty. Kết quả chính của họ cho thấy các công ty gia đình, đặc biệt là các công ty nhỏ hơn và lâu hơn, thể hiện hiệu quả ít. Dựa trên kết quả nghiên cứu, người quản lý công ty gia đình thông qua ảnh hưởng tác động đến rủi ro và hiệu quả tài 5 chính của công ty.