Sách giáo khoa Giáo dục thể chất 10 Bóng đá - Kết nối tri thức với cuộc sống

Sách giáo khoa Giáo dục thể chất 10 Bóng đá Kết nối tri thức cung cấp đầy đủ lý thuyết, kỹ thuật cơ bản và bài tập rèn luyện thực hành cho học sinh lớp 10.

Trường đại học

Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam

Chuyên ngành

Giáo dục thể chất

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách giáo khoa
73
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sách giáo khoa GDTC 10 bóng đá Kết nối tri thức

Sách giáo khoa GDTC 10 bóng đá Kết nối tri thức được biên soạn theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Đội ngũ tác giả gồm Tổng Chủ biên Nguyễn Duy Quyết cùng Chủ biên Hồ Đắc Sơn và các chuyên gia thể thao hàng đầu. Bộ sách do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành. Cuốn sách phục vụ nhu cầu học tập môn thể thao tự chọn của học sinh lớp 10 trung học phổ thông. Cấu trúc mỗi bài học được thiết kế khoa học qua bốn hoạt động chính: Mở đầu, Kiến thức mới, Luyện tập và Vận dụng. Các bài học kết hợp hài hòa giữa lí thuyết cơ bản và thực hành vận động. Tài liệu giúp người học hình thành thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên. Nội dung sách trang bị đầy đủ kĩ năng bảo vệ sức khỏe qua môi trường tự nhiên và dinh dưỡng hợp lí. Hình vẽ minh họa rõ ràng từng tư thế chuẩn bị, hướng di chuyển và đường bay của bóng. Sách chú trọng phát triển thể lực chuyên môn và nâng cao ý thức kỉ luật trong tập luyện tập thể. Đây là công cụ đắc lực hỗ trợ giáo viên tổ chức dạy học tích cực.

1.1. Mục tiêu và chuẩn đầu ra môn học

Môn học hướng đến phát triển năng lực chăm sóc sức khỏe và năng lực vận động cơ bản. Học sinh nắm vững quy tắc sử dụng không khí, ánh sáng và nước trong rèn luyện. Sách giáo khoa đặt chuẩn đầu ra về hiểu biết lịch sử bóng đá trong nước và thế giới. Người học phải thực hiện chính xác các kĩ thuật dẫn bóng, đá bóng và ném biên. Bên cạnh đó, học sinh cần biết vận dụng luật thi đấu bóng đá vào các trận đấu tập. Khả năng phối hợp đồng đội và tinh thần thể thao cao thượng được rèn luyện thường xuyên. Mục tiêu cuối cùng là duy trì thói quen tập luyện suốt đời để nâng cao chất lượng cuộc sống.

1.2. Cấu trúc mô đun bài học tiêu chuẩn

Mỗi bài học trong sách gồm bốn giai đoạn liên kết chặt chẽ. Phần Mở đầu gồm các bài tập khởi động chung và trò chơi vận động làm nóng cơ thể. Phần Kiến thức mới cung cấp vị trí tiếp xúc bóng, phân tích tư thế chuẩn bị và động tác thực hiện. Phần Luyện tập thiết kế bài tập cá nhân, bài tập cặp đôi và hoạt động nhóm nâng cao. Cuối cùng, phần Vận dụng đưa ra các tình huống thi đấu thực tiễn để giải quyết. Cấu trúc này giúp giáo viên dễ dàng phân hóa đối tượng học sinh theo thể lực. Người học tiếp thu kiến thức tuần tự từ nhận biết đến thực hành và vận dụng linh hoạt.

II. Phân tích nội dung sách giáo khoa GDTC 10 bóng đá Kết nối tri thức

Hệ thống kĩ thuật trong sách giáo khoa tập trung vào các động tác cơ bản nhưng mang tính quyết định trong thi đấu. Nội dung bao gồm dẫn bóng bằng lòng bàn chân, đá bóng bằng mu trong và ném biên đúng luật. Người học thường gặp khó khăn ở giai đoạn xác định điểm tiếp xúc giữa chân và bóng. Lỗi sai phổ biến là mở chân không đúng góc độ, khiến đường bóng đi chệch hướng hoặc thiếu lực. Ngoài ra, kĩ thuật ném biên thường mắc lỗi nhấc chân khỏi mặt sân hoặc tay rời bóng không đồng thời. Sách đã chỉ rõ các quy chuẩn hình học về động tác qua hệ thống hình vẽ chi tiết. Người đọc có thể nhận biết sai lầm qua phần lưu ý kĩ thuật sau mỗi bài học. Về mặt vận động, học sinh thường thiếu sự ổn định của cổ chân khi tiếp xúc bóng. Việc mất thăng bằng trong giai đoạn vung chân cũng làm giảm đáng kể hiệu quả động tác. Cuốn sách cung cấp cơ sở lí thuyết giúp giải quyết triệt để những hạn chế vận động này.

2.1. Yêu cầu kĩ thuật dẫn bóng và đá bóng

Kĩ thuật dẫn bóng bằng lòng bàn chân đòi hỏi khả năng làm chủ quả bóng ở cự li gần. Người tập phải giữ trọng tâm thấp, khớp gối hơi khuỵu khi di chuyển. Mũi bàn chân tiếp xúc bóng mở chếch ra ngoài để kiểm soát hướng lăn. Đối với kĩ thuật đá bóng, vị trí chân trụ đặt ngang bóng và cách bóng khoảng 10 đến 15 cm. Cổ chân giữ chắc tại thời điểm chạm bóng để tạo lực truyền tối đa. Khi vung chân, chuyển động phải nhịp nhàng từ khớp hông đến đùi và cẳng chân. Sự chính xác của điểm chạm quyết định trực tiếp quỹ đạo bay của quả bóng.

2.2. Lỗi sai thường gặp và cơ chế sinh học

Trong kĩ thuật ném biên, lỗi sai điển hình là nhảy lên khỏi mặt đất khi ra bóng. Quy định luật bóng đá bắt buộc hai chân phải tiếp xúc mặt sân suốt quá trình ném. Lỗi tiếp theo là ném bóng bằng một tay hoặc để bóng rời tay không cùng thời điểm. Động tác này vi phạm tính liên tục của chuỗi động học từ thân trên ra cánh tay. Ngoài ra, việc thân người không ngả sau làm giảm góc đón quán tính khi phát lực. Cơ thể không thể tận dụng sức mạnh của cơ bụng và cơ lưng để đẩy bóng đi xa. Việc sửa sai đòi hỏi người tập phải thực hiện chậm từng giai đoạn chuyển động.

III. Phương pháp dạy sách giáo khoa GDTC 10 bóng đá Kết nối tri thức

Phương pháp giảng dạy sách giáo khoa GDTC 10 bóng đá Kết nối tri thức được xây dựng theo nguyên tắc khoa học từ đơn giản đến phức tạp. Quy trình bắt đầu bằng bước khởi động chung và chuyên môn kĩ lưỡng để phòng tránh chấn thương. Giáo viên làm mẫu động tác kết hợp giải thích các mốc kĩ thuật then chốt. Học sinh thực hiện bài tập bổ trợ không bóng trước khi chuyển sang luyện tập có bóng. Các hình thức tổ chức luyện tập rất phong phú, bao gồm tập cá nhân, theo cặp và theo nhóm nhỏ. Trò chơi vận động như "Người thừa thứ ba" được lồng ghép để tăng cường tính hứng thú và phản xạ. Việc chia nhỏ cự li chuyền bóng giúp người học nhanh chóng định hình cảm giác bóng chuẩn xác. Giáo viên cần theo dõi sát sao để uốn nắn kịp thời các chuyển động sai lệch của học sinh. Sau các bài tập kĩ thuật đơn lẻ, người học được tham gia thi đấu đối kháng thu nhỏ. Điều này giúp củng cố phản xạ không gian và nâng cao tư duy chiến thuật đồng đội.

3.1. Phân kì và cấu trúc buổi tập luyện

Mỗi buổi tập thể chất được phân chia theo cấu trúc thời gian khoa học gồm ba phần rõ rệt. Phần mở đầu kéo dài từ 8 đến 10 phút để kích hoạt hệ tuần hoàn và các nhóm cơ chính. Hoạt động xoay khớp cổ tay, cổ chân, ép dọc, ép ngang giúp tăng cường độ dẻo dai. Phần cơ bản kéo dài từ 25 đến 30 phút nhằm rèn luyện kĩ thuật và phát triển thể lực. Học sinh tiến hành phân tích lí thuyết, thực hành lặp lại động tác và thi đấu tập. Phần kết thúc dành khoảng 5 phút để thả lỏng tích cực, điều hòa nhịp thở và nhận xét buổi học.

3.2. Sử dụng yếu tố tự nhiên và dinh dưỡng

Sách cung cấp hướng dẫn tận dụng không khí, ánh sáng và chế độ ăn để nâng cao hiệu suất tập. Trong ngày nắng gắt, hoạt động tập luyện được chuyển sang khung giờ sớm hoặc nơi rợp bóng mát. Người học cần bổ sung đủ lượng nước trước, trong và sau mỗi buổi tập để bù điện giải. Chế độ dinh dưỡng giàu carbohydrate phức hợp và protein thúc đẩy quá trình hồi phục cơ bắp nhanh chóng. Tắm nắng sớm ở mức độ vừa phải kích thích tổng hợp vitamin D hỗ trợ xương khớp vững chắc. Việc kiểm soát các yếu tố ngoại cảnh bảo đảm sức khỏe và phòng ngừa tình trạng kiệt sức do nhiệt.

IV. Giá trị ứng dụng sách giáo khoa GDTC 10 bóng đá Kết nối tri thức

Sách giáo khoa GDTC 10 bóng đá Kết nối tri thức mang lại giá trị thực tiễn cao trong giảng dạy và đời sống. Tài liệu đóng vai trò kim chỉ nam giúp giáo viên xây dựng giáo án chuẩn hóa theo năng lực người học. Các tiêu chí đánh giá kết quả được quy định minh bạch dựa trên độ chuẩn xác kĩ thuật và sự tiến bộ thể lực. Học sinh có thể tự đối chiếu động tác thông qua hệ thống hình minh họa chi tiết để tự rèn luyện ở nhà. Cuốn sách không chỉ đào tạo kĩ năng đá bóng thuần túy mà còn xây dựng lối sống năng động, lành mạnh. Hoạt động giao lưu bóng đá ngoại khóa giúp gắn kết tập thể và rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm. Người học hình thành tác phong kỉ luật, tinh thần trung thực và ý chí vượt khó qua từng trận đấu. Kiến thức về chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng có thể ứng dụng suốt đời cho bản thân và cộng đồng. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng phong trào thể dục thể thao học đường bền vững.

4.1. Đánh giá năng lực và kiểm tra thể lực

Quy trình đánh giá học sinh kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính. Tiêu chí định lượng dựa trên thời gian dẫn bóng qua chướng ngại vật hoặc số lần tâng bóng chuẩn xác. Tiêu chí định tính xem xét tư thế chuyển động, độ phối hợp tay chân và tinh thần thái độ. Việc kiểm tra định kì giúp người học nhận thức rõ mức độ tiến bộ của bản thân. Thang điểm đánh giá khuyến khích nỗ lực cá nhân thay vì chỉ chú trọng vào thành tích cao nhất. Giáo viên căn cứ vào kết quả để điều chỉnh phương pháp huấn luyện phù hợp với từng nhóm thể lực.

4.2. Xây dựng văn hóa thể thao học đường

Môn học là cầu nối quan trọng thúc đẩy phong trào thể dục thể thao trong nhà trường. Học sinh chủ động thành lập các câu lạc bộ bóng đá để rèn luyện sau giờ lên lớp. Các giải thi đấu nội bộ tạo sân chơi lành mạnh, đẩy lùi lối sống thụ động và các tệ nạn. Tinh thần fair-play được hình thành thông qua việc tuân thủ nghiêm túc điều lệ giải đấu. Thói quen vận động thường xuyên giúp nâng cao thể trạng, tăng khả năng tập trung trong học tập văn hóa. Tác động tích cực từ môn học góp phần xây dựng môi trường giáo dục thể chất toàn diện và hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho trận bóng đá giữa đội Vệ quốc đoàn và đội Công an tại Sân vận động Hàng Day (Ha NGi). Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 — 1954), bóng đá không có điều kiện để phát triển, nhưng ở vùng chiến khu vẫn diễn ra hoạt động luyện tập và thi đầu giao hữu trong các đơn vị bộ đội, xí nghiệp, trường học,. Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, phong trào luyện tập, thi đấu bóng đá được khôi phục và phát triển nhanh chóng ở nhiều địa phương, đơn vị quân đội, trường học, nhà máy,. Một số đội bóng hạng A, hạng B (có tính chuyên nghiệp) được thành lập.

Đội ngũ cán bộ phong trào, huấn luyện viên bóng đá được nhanh chóng đào tao dé tang cường khả năng tổ chức, chỉ đạo chuyên môn cho các địa phương và các ngành. Trong những năm từ 1954 đến 1975, nhiều giải thi đấu bóng đá hạng A, hạng B như giải vô địch hạng A miền Bắc, giải vô địch Tổng công đoàn (gồm các đội hạng A như Đường sắt, Bưu điện, Cảng Hải Phòng, Than Quảng Ninh), giải vô địch toàn quân,. đã được tổ chức và trở thành nguồn động viên, khích lệ lớn đối với phong trào luyện tập thể thao của đông đảo nhân dân ở nhiều lứa tuỏi. Năm 1963, đội tuyển thể thao Việt Nam tham gia Đại hội Thể thao các quốc gia mới nổi (GANEFO) lần thứ nhất được tổ chức tại Indonesia.

Thi đấu nội dung bóng đá có 16 đội, đội Việt Nam đoạt giải tư (do bốc thăm sau khi hoà 2 - 2 với đội Uruguay ở trận thi đấu xếp hạng ba, bốn). Cuối năm 1963, Việt Nam lần đầu tiên đăng cai tổ chức giải Bóng đá giữa quân đội các nước Xã hội chủ nghĩa, tham gia giải có 11 đội tuyển bóng đá quân đội của 11 quốc gia. Năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất là điều kiện để bóng đá nước nhà phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng. Nhiều đội bóng đá chuyên nghiệp nam, nữ ở các độ tuỏi, đại diện cho các tỉnh thành, ngành được thành lập, thi đấu giành chức vô địch quốc gia dưới sự quản lí, điều hành thống nhất của ngành Thẻ thao và Liên đoàn Bóng đá Việt Nam.

Tiền thân của Liên đoàn Bóng đá Việt Nam là Hội Bóng đá Việt Nam (Vietnam Football Association — VFA) thanh lap nam 1961. Đến tháng 8 năm 1989, Đại hội Liên đoàn Bóng đá Việt Nam lần thứ nhất gồm 120 đại biểu, thay mặt cho các lực lượng và tổ chức bóng đá trong cả nước đã họp tại Hà Nội. Sau khi thông qua báo cáo về tình hình, nhiệm vụ trước mắt của bóng đá Việt Nam, Đại hội tuyên bố thành lập Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (Vietnam Football Federation — VFF), thông qua Điều lệ Liên đoàn và bau Ban Chấp hành khoá I (nhiệm kì 4 năm) gồm 26 uỷ viên. Năm 1964, Việt Nam được FIFA, AFC công nhận là thành viên chính thức.

Màu trang phục thi đấu chính thức của đội tuyển quốc gia là áo đỏ — quần đỏ — tat đỏ. Quá trình hình thành và phát triển, VFF đã đưa bóng đá Việt Nam đạt được một số thành tựu trên đấu trường quốc tế, góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam nói chung, bóng đá Việt Nam nói riêng đến với bạn bè quốc tê. 13 K @ 14 Nhiều giải thi đấu trong nước và quốc tế do VFF tổ chức đã nhận được tài trợ từ các doanh nghiệp, làm tăng tính hắp dẫn của giải, tăng thu nhập của cầu thủ, giảm đáng kể chi phí của Nhà nước. Trong đó, các giải bóng đá (Vô địch quốc gia, Cup quốc gia, Siêu cup quốc gia, U21, U18, U16, Thiếu niên, Nhi đồng) và các giải đấu dành cho học sinh, sinh viên đã thu hút nguồn tài trợ rất lớn của các tổ chức thể thao quốc tế, Liên đoàn Bóng đá châu Á, Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á, công ty tiếp thị thể thao, các hãng sản xuất dụng cụ thể thao và của các nhãn hàng khác đã góp phần phát triển mạnh mẽ nền Bóng đá nước nhà.

Bóng đá Việt Nam cũng đã có những bước tiến lớn tại các giải thi đấu quốc tế của khu vực Đông Nam Á và châu Á. Từ năm 1976 cho đến nay, bóng đá Việt Nam ngày càng lớn mạnh; thành tích đang dần được cải thiện. Theo xếp hạng của Liên đoàn Bóng đá thế giới vào tháng 12 - 2020, Việt Nam xếp hạng thứ 93 trong số các đội tuyển Bóng đá quốc gia. Trong những năm gần đây, đội tuyển Bóng đá quốc gia Việt Nam (nam và nữ) đã đạt được rất nhiều thành tích nỗi bật trong khu vực Đông Nam A va chau A.

Tại SEA Game 30, đội tuyển Bóng đá nữ Việt Nam lần thứ 6 vô địch SEA Game. Sau thành công giải U23 châu Á 2018, ASIAD 2018, AFF Cup 2018 va ASEAN Cup 2019, lần đầu tiên đội tuyển Bóng đá nam Việt Nam vô địch SEA Game. Những trận đấu của đội tuyển Bóng đá quốc gia Việt Nam cống hiến cho khán giả luôn giàu cảm xúc, thể hiện tinh thần, ý chí dân tộc cao, góp phần tạo nên hình ảnh bóng đá nước nhà. Bóng đá trở thành nội dung học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên trong các trường học của hệ thống giáo dục quốc dân.

VẬN DỤNG Bóng đá hiện đại ra đời năm nào? Hiện nay FIFA có bao nhiêu quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên? Bóng đá xuất hiện tại Việt Nam trong thời kì nào? Ai là người đá quả bóng danh dự mở đầu cho trận đấu giữa đội Vệ quốc đoàn và đội Công an tại Sân vận động Hàng Đẫy (Hà Nội)? Trận đấu đó diễn ra vào thời gian nào? Hãy nêu sự phát triển của nền Bóng đá Việt Nam sau năm 1975 đến nay. MỘT SỐ ĐIỀU LUẬT ; TRONG THI DAU BONG DA Muc tiéu, yéu cau can dat — Biết một số điều luật trong thi đấu bóng đá. — Vận dụng được một số điều luật trong luyện tập và đấu tập. — Tự giác tìm hiểu, học hỏi những kiến thức về Luật Bóng đá.

Oy KIEN THUC MGI Duong bién ngang SAN THI BAU Các trận đấu được tỏ chức trên sân cỏ tự nhiên hoặc sân cỏ nhân tạo có màu xanh lá cây. Sân thi đấu có hình chữ nhật, được giới hạn bởi các biên dọc và biên ngang. Đường chia sân thành hai nửa bằng nhau được gọi là đường giữa sân. Các đường giới hạn trên sân có chiêu rộng không quá 12 cm.

Giữa sân có vòng tròn trung tâm với bán kinh là 9,15 m. Chiều dài sân (đường biên dọc): Tối thiểu 90 m, tối đa 120 m. Chiều rộng sân (đường biên ngang): Tối thiểu 45 m, tối đa 90 m. Cầu môn được đặt chính giữa mỗi đường biên ngang, có chiều cao là 2,44 m và rộng 7,32 m.

Đường biên dọc 90 - 120 m 45—- 90m Au môn m x 244m Hình 1. Sân bóng đá (11 người) 15 16 BÓNG THỊ ĐẦU Được làm bằng da hoặc chất liệu phù hợp. Chu vi không được lớn hơn 70 cm và không được nhỏ hơn 68 cm. Trọng lượng lúc bắt đầu trận đấu không được nặng hơn 450 g và không được nhẹ hơn 410 g.

SO LUO'NG CAU THU Trong mỗi trận đấu gồm có hai đội, mỗi đội có tối đa 11 người, trong đó có 1 thủ môn. Trận đấu không được bắt đầu nếu một trong hai đội không đủ 7 cầu thủ. Trong các trận đấu, việc thay cầu thủ phải được thông báo trước với trọng tài. Cầu thủ dự bị chỉ được vào sân khi cầu thủ được thay đã rời khỏi sân và phải được trọng tài cho phép.

Cầu thủ đã bị thay thế không còn được phép tham gia trận đấu. Bất kì cầu thủ nào cũng được thay thế thủ môn với điều kiện: Phải thông báo trước với trọng tài. Chỉ được thực hiện khi bóng ngoài cuộc. TRANG PHUC CUA CAU THU Cầu thủ không được sử dụng hoặc mang những đồ vật có thể gây nguy hiểm cho bản thân và cầu thủ khác (kẻ cả các loại trang sức).

Trang phục thi đấu cơ bản của cầu thủ gồm: Áo thi đấu có cánh tay, quần đùi, tất dài, bọc ống chân, giày. Màu sắc trang phục: Hai đội bóng phải mặc trang phục thi đầu có màu sắc dễ phân biệt với nhau và với trọng tài, trợ lí trọng tài. Mỗi thủ môn phải mặc trang phục thi đấu có màu dễ phân biệt với các cầu thủ khác, với trọng tài và trợ li trong tài. TRỌNG TÀI Quyền của trọng tài: Trọng tài là người kiểm soát và điều hành mọi diễn biến của trận đầu tuân theo luật thi đấu.

Quyền hạn và nhiệm vụ của trọng tài: + Đảm bảo việc áp dụng đúng luật. + Phối hợp với các trợ lí trọng tài và trọng tài thứ tu trong việc kiểm soát và điều hành trận đấu. + Theo dõi và đảm bảo thời gian của trận đấu đúng quy định. + Tạm dừng, tạm hoãn hoặc ngừng hẳn trận đấu nếu nhận thấy có biểu hiện vi phạm luật hoặc sự ảnh hưởng của bên ngoài đối với trận đấu.

Tạm dừng trận đấu nếu nhận thấy có cầu thủ bị chắn thương cần được chữa trị. + Quyết định phạt thẻ vàng, thẻ đỏ đối với cầu thủ phạm lỗi. TRỢ LÍ TRỌNG TÀI —_ Mỗi trận đấu gồm 2 trợ lí trọng tài. — Trợ li trọng tài có nhiệm vụ xác định rõ: + Khi bóng đã vượt ra khỏi các đường giới hạn của sân thi đấu.

Đội nào được đá phạt góc, phát bóng hoặc ném biên. Khi có cầu thủ phạm luật việt vị. Khi có yêu cầu thay cầu thủ. + + + + Khi cầu thủ có hành vi khiếm nhã hoặc vi phạm luật xảy ra ngoài tầm quan sát của trọng tài.

+ Khi đá phạt đền: Xác định bóng đã qua vạch cầu môn và thủ môn di chuyển khỏi đường cầu môn trước khi bóng được đá đi hay không. THỜI GIAN CỦA TRẬN ĐÁU —_ Thông thường, mỗi trận đấu có hai hiệp, mỗi hiệp là 45 phút. — Thời gian nghỉ giữa hai hiệp không được quá 15 phút. BAT DAU VA BAT BAU LAI TRAN ĐẦU — Qua giao béng là một hình thức bắt đầu trận đấu hoặc bắt đầu lại trận đấu.

—_ Các trường hợp giao bóng gồm: Thời điểm bắt đầu trận đấu, bắt đầu hiệp 2 của trận đấu, bắt đầu mỗi hiệp phụ (nếu có), sau mỗi bàn thắng hợp lệ. —_ Bàn thắng có thể được ghi trực tiếp từ quả giao bóng. — Khi giao bóng: + Tất cả cầu thủ hai đội phải đứng trên phần sân của đội mình. + Đội không được quyền giao bóng phải đứng cách xa bóng ít nhất là 9,15 m cho đến khi bóng được đá vào cuộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ