CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (L/C) VÀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU 1. Cơ sở lý luận về tín dụng chứng từ (L/C) Trước sự phát triển không ngừng của hoạt động ngoại thương, đòi hỏi cần có nhiều PTTT ra đời để đáp ứng nhu cầu thanh toán của NXK và NNK. Trong ngoại thương, các bên không phải chỉ trong một quốc gia, mà ở cách xa nhau, ngôn ngữ khác nhau, sự khác biệt về múi giờ, văn hóa… tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, từ đó hình thành nghiệp vụ TTQT. Cùng với sự phát triển của hệ thống Swift, PTTT L/C (Letter of Credit) đã ra đời và là phương thức cân bằng được lợi ích của người bán và người mua.
Ngày nay, các ngân hàng là thành viên của hệ thống Swift phát hành và truyền L/C chủ yếu bằng mẫu điện Swift MT700, MT701. Các ngân hàng không là thành viên của Swift phát hành chủ yếu bằng telex có khóa mã, còn phát hành bằng thư và fax rất ít. Khái niệm về tín dụng chứng từ (L/C) Thư tín dụng có nhiều cách gọi khác nhau như: tín dụng thư, tín dụng chứng từ, hay L/C. Tín dụng chứng từ về cơ bản là một cam kết do ngân hàng của người mua cung cấp, nêu rõ rằng nếu người bán tuân thủ các điều khoản và điều kiện khác nhau của mình, ngân hàng sẽ đảm bảo thanh toán theo cách được mô tả trong đó.
Theo Điều 2, UCP 600, thư tín dụng được định nghĩa như sau: “Credit means any arrangement, however named or described, that is irrevocable and thereby constitutes a definite undertaking of the issuing bank to honour a complying presentation.” Có nghĩa: “Tín dụng là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không thể hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”. Thư tín dụng là một trong những PTTT phổ biến nhất được sử dụng trong các giao dịch quốc tế vì nó mang lại mức độ an toàn cao cho cả hai bên. Người mua sẽ được NHPH đảm bảo sẽ không phải trả tiền cho đến khi nhận được BCT cần thiết để nhận hàng, trong khi người bán được đảm bảo rằng việc thanh toán được thực hiện sau khi hàng hóa được gửi đi trong trường hợp người bán có thể xuất trình các chứng từ cần 7 thiết cho ngân hàng. Giá trị chính của L/C đối với người bán là họ sẽ có một cam kết thanh toán được thực hiện bởi một bên thứ ba, đó là ngân hàng, vậy nên mới nói L/C là PTTT đảm bảo lợi ích cho cả 2 bên.
Đặc điểm của L/C Thứ nhất, L/C là hợp đồng kinh tế độc lập của hai bên là NHPH và NXK. Thư tín dụng chỉ thể hiện nghĩa vụ của ngân hàng với người thụ hưởng, không phụ thuộc vào quan hệ giữa NXK và NNK. Thứ hai, L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa: thư tín dụng được phát hành dựa trên cơ sở hợp đồng. NNK phải căn cứ vào những thỏa thuận trong hợp đồng thương mại quốc tế để lập giấy yêu cầu mở thư tín dụng.
Căn cứ vào giấy yêu cầu mở thư tín dụng, ngân hàng sẽ xem xét và quyết định có chấp nhận phát hành thư tín dụng hay không. Thư tín dụng do một ngân hàng mở để cam kết trả tiền cho NXK theo yêu cầu của NNK. Do đó, sau khi L/C đã được mở tại một ngân hàng xác định, vào một thời gian nhất định thì tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại. Thứ ba, L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ.
Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở BCT, không căn cứ vào việc giao hàng thực tế. Ngân hàng cũng không cần biết đến nội dung của hợp đồng, mà chỉ căn cứ vào nội dung của L/C để trả tiền cho NXK. Thứ tư, nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C là yêu cầu tuân thủ chặt chẽ BCT, vì tất cả giao dịch bằng chứng từ và việc thanh toán dựa trên chứng từ. Vì vậy NXK phải xuất trình được BCT phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C, các điều khoản của UCP được áp dụng, tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế (ISBP).
Thứ năm, L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro và đôi khi còn là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo. Xét về góc độ là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro cho NXK và NNK, L/C chiếm được ưu thế hơn hẳn với các phương thức khác bởi tính ưu việt của nó. Tuy nhiên, trong thực tế thương mại quốc tế, theo diễn biến của thị trường, L/C có thể bị lạm dụng là công cụ để từ chối thanh toán và lừa đảo. Từ bản chất của L/C đó là giao dịch dựa vào việc kiểm tra trên bề mặt chứng từ, không dựa trên thực tế hàng hóa, do đó bọn lừa đảo có thể giao hàng không đúng hoặc không giao hàng nhưng vẫn lập được BCT hoàn hảo để thanh toán.
Các nội dung cơ bản của L/C Các L/C được phát hành qua Swift phải tuân thủ mẫu chuẩn với các điều khoản bắt buộc (M- mandatory) và tùy chọn (O – optional) theo quy định của Hiệp hội Swift và được thống nhất trên toàn cầu. Thư tín dụng bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, số hiệu L/C (Credit Number): tất cả L/C đều có số hiệu riêng của nó, trong trường hợp mở L/C bằng điện Swift MT700 thì số hiệu thường được ghi ở trường điện 20. Số hiệu dùng để dẫn chiếu vào các chứng từ có liên quan. Đây là trường bắt buộc trong L/C.
Thứ hai, địa điểm phát hành L/C (place of issuing): là nơi NHPH viết cam kết thanh toán cho người thụ hưởng. Địa điểm này có ý nghĩa trong việc chọn luật giải quyết tranh chấp nếu trong L/C không dẫn chiếu luật áp dụng. Được ghi tại trường 31D và là nội dung bắt buộc trong L/C. Thứ ba, ngày phát hành L/C (date of issuing): là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của NHPH L/C với người hưởng lợi, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cuối cùng là căn cứ để NXK kiểm tra xem NNK thực hiện việc mở L/C có đúng hạn như đã quy định trong hợp đồng không.
Ngày phát hành L/C thường được ghi ở trường 31C và là nội dung tự chọn. Thứ tư, tên, địa chỉ của những người có liên quan đến L/C gồm các thương nhân, ngân hàng và các tổ chức: - Thương nhân bao gồm: NXK - được thể hiện tại trường 59, NNK - được thể hiện tại trường 50 và là hai nội dung bắt buộc. - Ngân hàng: NHPH, NHTB, NHXN, ngân hàng hoàn trả… được quy định tại trường 51A, 53A, 57A. - Các tổ chức: phòng thương mại, công ty bảo hiểm, người chuyên chở, cơ quan hải quan… Thứ năm, số tiền, loại tiền, số lượng, đơn giá (credit currency and amount): số tiền có thể được ghi bằng chữ hoặc số, phải khớp với nhau, nếu số tiền bằng chữ khác bằng số thì sẽ không được chấp nhận và cần yêu cầu sửa đổi L/C.
Loại tiền cần tuân theo tiêu chuẩn ISO về ký hiệu tiền tệ để tránh bị hiểu nhầm và dẫn tới sai sót. 9 Ví dụ: khi viết ký hiệu $ - đô la, người ta sẽ liên tưởng ngay đến đồng đô la Mỹ, nhưng có một thực tế rằng, có rất nhiều loại Đô la, như Đô la Mỹ (USD), Đô la Úc (AUD), hay Đô la Hồng Kông (HKD)… Không nên ghi số tiền dưới dạng số tuyệt đối vì ghi thế NXK khó có thể giao hàng đúng giá trị trên L/C, và một khi không khớp thì khó được thanh toán do dẫn tới sự sai biệt trong chứng từ. Cách ghi tốt nhất là đưa ra một dung sai trong số tiền thanh toán. Ký hiệu tiền tệ và trị giá L/C được thể hiện tại trường 32B, là trường bắt buộc; dung sai được thể hiện tại trường 39A và các trường liên quan như 39B (giá trị tối đa của L/C) và 39C (thể hiện các giá trị gia tăng cho người thụ hưởng theo quy định của L/C).
Thứ sáu, thời hạn hiệu lực và địa điểm xuất trình L/C: là thời hạn mà NHPH cam kết trả tiền cho người thụ hưởng nếu người đó xuất trình được BCT hợp lệ và trong thời hạn hiệu lực của L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C (được quy định tại trường 31C) đến ngày hết hiệu lực của L/C (tại trường 31D). Cần xác định một thời hạn hiệu lực hợp lý sẽ tránh ứ đọng vốn cho NNK vừa không gây khó khăn cho việc xuất trình chứng từ của người thụ hưởng. Địa điểm xuất trình L/C là địa điểm mà tại đó L/C có giá trị thanh toán.
Đối với L/C có giá trị tự do thì địa điểm xuất trình L/C nằm ở bất kỳ nước nào. Thứ bảy, thời hạn trả tiền L/C (L/C tenor) là thời hạn trả tiền ngay hoặc trả tiền sau phụ thuộc vào quy định của hợp đồng. Thứ tám, thời gian giao hàng (shipment period) do hợp đồng mua bán quy định và cũng được ghi trong L/C, thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C. Được quy định tại trường 44D và là nội dung không bắt buộc.
Thứ chín, những nội dung liên quan đến hàng hóa như tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì… được quy định tại trường 45A và là nội dung không bắt buộc. Thứ mười, những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa như quy tắc giao hàng (FOB, CIF…) nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển, có giao hàng từng phần hay không, có chuyển tải hay không cũng được ghi vào L/C. Các nội dung này được quy định tại các trường 43P (cho phép giao hàng từng phần), 43T (cho phép chuyển tải), 10 44A (cảng xếp/ sân bay khởi hành), 44B (cảng dỡ, sân bay đích) và 45A (mô tả hàng hóa, các quy tắc giao hàng). Thứ mười một, BCT mà NXK phải xuất trình là rất quan trọng vì nó thể hiện rằng NXK đã hoàn thành quá trình giao hàng và nếu xuất trình được BCT phù hợp với các quy định của L/C sẽ được thanh toán tiền hàng.
Nội dung này được quy định tại trường 46A và là nội dung không bắt buộc. Ngoài những nội dung kể trên, những điều khoản bổ sung (additional conditions) có thể thêm những nội dung khác cần thiết như: phí, trả tiền bằng điện, trả tiền bằng điện cho phép bồi hoàn. Được quy định tại trường 47A và là trường không bắt buộc.