phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng phát âm đúng của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở một số trƣờng Mầm Non huyện Thiệu Hóa Chƣơng 3: Biện pháp rèn luyện khả năng phát âm đúng cho trẻ 3-4 tuổi ở một số trƣờng Mầm Non huyện Thiệu Hóa. NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận ngữ âm 1. Đặc điểm của âm tiết tiếng việt Có tính phân tiết cao, các âm tiết đứng cách nhau, mỗi âm tiết bao giờ cũng gắn liền với thanh điệu và làm thay đổi ý nghĩa của âm tiết.
Vì vậy: Lời nói của con ngƣời bao giờ cũng là lời nói thành tiếng. Khi nói chúng ta phải phát âm ra thành từ, thành câu, thành văn bản để truyền đạt nội dung thông báo. Khi nghe chúng ta tiếp nhận các âm thanh ngƣời nói phát ra, từ đó hiểu đƣợc nội dung của lời nói. Trong âm thanh của lời nói do một cá nhân phát ra, ngoài những đặc điểm cụ thể còn có một cái chung nhất mang chức năng xã hôị.
Những âm thanh cụ thể của lời nói, của mỗi cá nhân là những thực thể mang chức năng xã hội. Hệ thống ngữ âm của âm tiết tiếng việt - Có 5 thành phần: + Âm đầu + Âm điệu + Âm chính + Âm cuối + Thanh điệu • Thành phần vị trí thứ 5 là thanh điệu bao trùm lên toàn bộ âm tiết. • Thành phần ở vị trí thứ nhất là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm • Thành phần ở vị trí 2 là do âm đệm, đó là nguyên âm trong chữ viết, đƣợc thể hiện bằng chữ O chẳng hạn (Hoan, Thông); bằng chữ U (Xuân, Dung)… • Thành phần ở vị trí 3 là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm. Âm chính là hạt nhân của âm tiết.
• Thành phần ở vị trí 4 là âm cuối, do các phụ âm bán nguyên âm (i, y, u, o) đảm nhiệm. 12 • Các thành phần ở vị trí 2, 3, 4 ghép lại với nhau thành một bộ phận gọi là phần vần. Âm bao giờ cũng phải có âm chính và thanh điệu, vị trí còn lại có thể có hoặc không. - Âm tiết tiếng việt có cấu trúc hai bậc: Bậc thứ nhất bao gồm những thành tố của thành phần vần.
Bậc 1: Thanh điệu Âm đầu phần vần. Bậc 2: Âm đệm Âm chính Âm cuối • Thanh điệu là sự thay đổi độ cao những âm tiết: ma, mã, má đối lập với mà, mả, mạ về độ cao. Các âm tiết trƣớc đều đƣợc phát âm với cao độ cao, các âm tiết sau phát âm với cao độ thấp. • Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu, trong những âm tiết trên thì những âm tiết cùng thuộc độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên của độ cao, trong thời gian âm tiết “ma” đƣợc phát âm với cao độ hoàn toàn bằng phẳng; còn “mã” với đƣờng nét biến thiên, cao độ không bằng phẳng.
Âm điệu là những đƣờng nét biến thiên về cao độ. • Nguyên âm trong Tiếng Việt đƣợc coi là âm chính, nguyên âm là khi nói âm vị phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở. VD: Khi phát âm “t” hơi bị cản trở ở đầu lƣỡi chạm vào lợi; còn với âm “a” hơi thoát ra tự do không bị cản ở chỗ nào cho nên “ă” cũng là nguyên âm. Xét về mặt cấu tạo ngƣời ta phân chia phân biệt nguyên âm đơn và nguyên âm đôi.
- Nguyên âm đôi là gồm 2 nguyên âm ghép lại liền nhau. Khi phát âm thì đọc nhanh, đọc lƣớt từ âm này sang âm kia, đầu mạnh sau yếu hơn, do đó âm sắc chủ yếu của các nguyên âm đôi là do âm đầu quyết định. Có 3 nguyên âm đôi đó là: uô, ƣơ, ie. Xét về độ dài, cần phân biệt nguyên âm ngắn khi phát ra không thể kéo dài, nếu kéo dài có thể ảnh hƣởng đến nghĩa.
- Phụ âm: Các âm vị đảm nhiệm thành phần âm đầu của âm tiết Tiếng Việt bao giờ cũng là các phụ âm. Phụ âm là âm vị khi phát âm luồng hơi đi ra bị cản ở chỗ nào đó trong bộ máy phát âm, phụ âm có loại bị cản ở môi; có loại bị cản ở răng, có loại bị cản ở lƣỡi; có loại bị cản ở thanh hầu. Về phƣơng thức phát âm ngƣời ta chia phụ âm thành: 13 - Phụ âm tắc: Hơi bị cản lại sau thoát ra đƣờng miệng vào mũi: b, d, t, s c, k, m,r, p, ng. - Phụ âm sát: Hơi đi qua kẽ hở miệng: p, v, s, z, l, x, y, h.
- Phụ âm vang: Hơi thoát ra đầu lƣỡi và bên lƣỡi: m, n, nh. - Phụ âm ồn: Hơi thoát ra đằng miệng có tiếng ồn: b, d, t, c, k, p, f, v, x, z, y, h. - Phụ âm hữu thanh, vô danh trong các âm ồn: Căn cứ vào chỗ dây thanh có rung hay không rung ngƣời ta chia ra: + Phụ âm hữu thanh: Dây thanh rung. + Phụ âm vô thanh: không.
Phụ âm hữu thanh là: d, v, z, y Phụ âm vô thanh là: t, c, k, b, f, x, s, h. - Về vị trí cấu âm ta phân phụ âm thành: + Phụ âm môi: p, b, m, f, v. + Phụ âm lƣỡi: d, t, s, z, l, n. + Phụ âm hầu: h.
Trong các âm lƣỡi sự đối lập nhau giữa đầu lƣỡi hẹp: r, t, s, z, l, n; đầu lƣỡi quật: đ, a. Phần vần là do thành phần của âm đệm, âm chính, âm cuối ghép với nhau thành một bộ phận gọi là phần vần. Ví dụ: Âm tiết Quyên: U là âm đệm Yê là âm chính N là âm cuối Uyên là phần vần. Đặc điểm ngữ âm của trẻ 3-4 tuổi Ngôn ngữ của trẻ phát triển từ thấp đến cao với nhiều bƣớc khác nhau, giai đoạn sau kế thừa và phát triển hơn giai đoạn trƣớc.
Ngôn ngữ của trẻ phát triển theo một số quy luật chung xong bƣớc phát triển lại có những đặc điểm trên. Nếu chúng ta nắm đƣợc những đặc điểm phát triển đó và biết cách tác động thích hợp thì sẽ thúc đẩy ngôn ngữ của trẻ tiến lên những bƣớc phát triển mới đồng thơi khắc phục những khó khăn mà trẻ thƣờng gặp phải khi tiếp xúc và sử dụng ngôn ngữ. Mỗi khi phát triển ngôn ngữ của trẻ đƣợc xem xét trong mối liên hệ với sự tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ với bƣớc phát triển trƣớc đó lớn hơn những yếu tố 14 chủ quan: điều kiện sống, giáo dục , môi trƣờng xung quanh để từ đó có những định hƣớng giúp cho sự phát triển ngôn ngữ tốt hon. Hình thái ban đầu của sự phát triển ngôn ngữ ở con ngƣời là quá trình tích lũy từ vựng, khả năng, ngữ âm, kinh nghiệm, cấu trúc cà các hình thức ngữ pháp cũng nhƣ những kỹ năng sử dụng chúng thích hợp với ngữ cảnh trong hoạt động lời nói ( ngôn ngữ nói).
Nói cách khác giáo dục càng phát triển ngôn ngữ trƣớc hết là dạy trẻ nói và học thông qua sử dụng và làm giàu vốn từ của cá nhân trẻ. Ngôn ngữ của trẻ có chuyển biến rõ rệt về chất, về vốn từ tăng nhanh chóng. Thời kì sơ sinh: Trẻ phát âm ra âm thanh đầu tiên là tiếng khóc “ọ”, “ẹ”đây không phải là những âm thanh ngôn ngữ. Nó là những phản ứng tự nhiên của cơ thể trẻ khi thấy đói, thấy ƣớt, hoặc nằm bị vƣớng.
Tuy nhiên, những âm thanh ban đầu này cũng là những tín hiệu báo cho ngƣời mẹ biết những cảm giác khác nhau của bé. Thời kì bập bẹ: Từ tháng thứ 2 và tháng thứ 3, trẻ nhỏ đã bắt đầu bập bẹ, chúng biết hóng chuyện, cƣời với những ngƣời xung quanh, khua chân múa tay và phát ra các âm gừ gừ. Luyện âm thanh này đã mang tính tâm lí và bắt đầu trở thành phƣơng tiện giao tiếp giữa trẻ và ngƣời lớn. Dần dần trẻ đã biết giao tiếp bằng các âm khác nhau nhƣ: “a”, “u” , “ƣ”.
Tháng thứ 5 và thứ 6 trẻ nằm một mình và bập bẹ. Nó thƣờng nhắc lại âm thanh của chính mình. Quá trình nhắc lại ấy có sự lên xuống của giọng. Từ tháng thứ 7 trẻ phát ra một chuỗi âm thanh nhƣ ba ba, chà chà, ở đây thƣờng có sự liên kết của một phụ âm với một nguyên âm hoặc hai nguyên âm với nhau.
Trong tiếng bập bẹ của trẻ, âm đầu của âm tiết thƣờng đƣợc nhấn mạnh, âm sắc của các âm bập bẹ không đƣợc rõ ràng. Khoảng gần một năm, trẻ đã dùng một hai âm tiết để biểu thị một nội dung nào đó ví dụ bé phát âm ò… ò… để chỉ con bò, u… u… để chỉ tàu hỏa, bíp bíp chỉ ô tô. Những từ này chúng ta gọi là từ giả. Mỗi trẻ sẽ có một hệ thống từ giả của mình mà chỉ những ngƣời sống thật gần gũi với trẻ mới có thể hiểu đƣợc nghĩa của từ đó.
Cuối năm thứ nhất trẻ có thể bắt chƣớc tất cả những âm thanh mà trẻ nghe thấy. tóm lại trong giai đoạn tiền ngôn ngữ, trẻ em đã học cách sử dụng bộ máy phát âm, tập phát âm các âm vị của tiếng mẹ đẻ, tập lắng nghe và 15 nhìn sự chuyển động của cơ quan phát âm (của ngƣời nói). Đây là những cơ sở ban đầu rất quan trọng để trẻ tiếp thu giai đoạn tiếp theo. Trong giai đoạn ngôn ngữ trẻ từ 1 đến 2 tuổi thì nhu cầu giao tiếp với mọi ngƣời xung quanh ở trẻ ngày càng cao, điều này thúc đẩy quá trình tiếp thu ngôn ngữ của trẻ.
Đến độ tuổi này trẻ có thể nghe và hiểu đƣợc các từ gần gũi, quen thuộc (bà, bố, mẹ,…) các câu đơn giản „‟bé chào bà‟‟ đồng thời trẻ bắt đầu thể hiện nhu cầu mong muốn của mình bằng lời nói, tuy nhiên cách phát âm của trẻ còn rất khó khăn. Trẻ vẫn còn sử dụng các âm bập bẹ để thể hiện nhu cầu khác. Các âm bập bẹ của trẻ đều có nghĩa nó thƣờng gắn với một cử chỉ nào đó của trẻ: chỉ tay, gật đầu, lắc đầu,… Ngoài các âm bập bẹ với cấu trúc ngữ âm ngày càng phức tập hơn, trẻ ở tuổi này bắt đầu phát âm đƣợc những từ đầu tiên. Những từ trẻ hiểu nghĩa và phát âm đƣợc những từ gần gũi, quen thuộc với trẻ nhƣ: bà, mẹ, các, gà,… Khác với lứa tuổi trƣớc, trẻ ở lứa tuổi này học phát âm những từ, nhận thức hệ thống âm tiếng việt qua từ.
Trẻ từ 18-24 tháng có khoảng 200- 300 từ. Nhƣ vậy trẻ đã phát âm đƣợc hầu hết các âm vị tiếng việt.