Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (CTGDPT 2018) do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 12 năm 2018 đánh dấu sự chuyển dịch trọng tâm từ tiếp cận trang bị nội dung sang tiếp cận phát triển phẩm chất, năng lực người học. Định hướng này gắn liền với tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cùng Điều 28.2 Luật Giáo dục năm 2005 về phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức và phương pháp tự học cho học sinh.

Trong chương trình môn Sinh học 11, nội dung "Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật" được thiết kế theo cấu trúc các quá trình sống ở cấp độ cơ thể thực vật và động vật, chứa đựng nhiều quy luật sinh học gắn liền với thực tiễn sản xuất và đời sống con người. Tuy nhiên, thực tế dạy học tại các trường trung học phổ thông (THPT) cho thấy học sinh thường tiếp thu kiến thức thụ động, ghi nhớ máy móc định nghĩa trong sách giáo khoa mà chưa có kỹ năng mổ xẻ, phân tích bản chất hiện tượng. Hoạt động giảng dạy của giáo viên đôi khi chỉ chú trọng truyền đạt kiến thức để tái hiện, chưa khai thác triệt để các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực nhằm rèn luyện tư duy logic cho người học. Do đó, tác giả Phạm Võ Kim Hà đã thực hiện đề tài "Rèn luyện cho học sinh kĩ năng phân tích trong quá trình dạy học nội dung Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật, môn Sinh học 11" dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Đình Văn tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (2024).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng quy trình và lựa chọn các biện pháp sư phạm để rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân tích trong dạy học nội dung "Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật", môn Sinh học 11, nhằm nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực nhận thức sinh học.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 7 nhiệm vụ):

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc lựa chọn, vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học phù hợp nhằm rèn luyện kỹ năng phân tích cho học sinh, cùng lí luận về kỹ năng tư duy logic và kỹ năng học tập.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng áp dụng kỹ năng phân tích của học sinh trong môn Sinh học 11 ở các trường THPT.
  3. Phân tích yêu cầu cần đạt, cấu trúc nội dung "Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật", môn Sinh học 11 để làm cơ sở lựa chọn phương pháp và kỹ thuật dạy học phù hợp.
  4. Đề xuất một số phương pháp và kỹ thuật dạy học phù hợp nhằm rèn luyện kỹ năng phân tích cho học sinh trong nội dung nghiên cứu.
  5. Thiết kế kế hoạch bài dạy (KHBD) có lựa chọn, vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học đã đề xuất.
  6. Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
  7. Xử lý kết quả thực nghiệm và hoàn thiện báo cáo khóa luận.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân tích trong dạy học nội dung Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật, môn Sinh học 11.
  • Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 11 tại 2 trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (mỗi trường 2 lớp).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 09/2023 đến tháng 04/2024.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng trên đội ngũ giáo viên và học sinh tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận (gồm THPT Trần Đại Nghĩa - Cần Thơ, THPT Thạnh Phước - Bến Tre, THPT Năng khiếu TDTT Nguyễn Thị Định, THPT Bùi Thị Xuân, THPT Nam Kì Khởi Nghĩa, THPT Trần Quang Khải); triển khai thực nghiệm sư phạm tại 2 trường: THPT Nam Kì Khởi Nghĩa và THPT Trần Quang Khải (TP. Hồ Chí Minh).
  • Giả thuyết khoa học: Nếu lựa chọn, vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học phù hợp với yêu cầu cần đạt và nội dung dạy học thì sẽ rèn luyện được kỹ năng phân tích cho học sinh, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và quan niệm khoa học

Đề tài dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về kỹ năng và phương pháp dạy học tích cực:

  • Khái niệm và giai đoạn hình thành kỹ năng: Kỹ năng được định nghĩa theo quan điểm của Trần Bá Hoành, Nguyễn Đình Chỉnh, Robert J. Sternberg (2003), N. Cruchetxki (1981), Phạm Minh Hạc (1988), Trần Quốc Thành (1992), Chu Liên Anh (2011) và Vũ Xuân Hùng (2016). Quá trình hình thành kỹ năng được khái quát qua 4 giai đoạn: (1) Hình thành tri thức, (2) Bắt chước, (3) Làm được, (4) Thành thạo.
  • Bản chất của kỹ năng phân tích: Khái niệm phân tích theo Từ điển Hoàng Phê và Lê Thanh Oai: phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ phận/yếu tố hợp thành để xem xét cấu trúc, mối quan hệ cấu thành và quan hệ nhân quả. Kỹ năng phân tích gắn bó hữu cơ với kỹ năng tổng hợp và thuộc nhóm kỹ năng tư duy bậc cao (HOTS - Higher Order Thinking Skills) theo nghiên cứu của Marshall & Horton, Bagarukayo et al., và Siti Sarah et al.
  • Lý luận dạy học môn Sinh học: Kế thừa các công trình lý luận dạy học của Nguyễn Ngọc Quang (1986, 1989), Trần Bá Hoành và Trịnh Nguyên Giao (2002), Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thâm (1996), Nguyễn Kỳ (1994, 1996), cùng các luận văn thạc sĩ chuyên ngành về rèn luyện kỹ năng phân tích - tổng hợp qua bài tập tình huống của Hoàng Thị Thu Huyền (2012) và Khưu Thanh Tuyết Lê (2012).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Khóa luận kết hợp 5 nhóm phương pháp nghiên cứu sư phạm:

  1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích, tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết 29-NQ/TW, Luật Giáo dục 2005), chương trình môn Sinh học 2018 và SGK Sinh học 11 nhằm xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt.
  2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng: Sử dụng phiếu hỏi (bản giấy và Google Forms) đối với 33 giáo viên Sinh học và 185 học sinh THPT. Thang đo Likert 5 mức độ được áp dụng để lượng hóa dữ liệu.
  3. Phương pháp tham vấn chuyên gia: Gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với giảng viên sư phạm và giáo viên đang trực tiếp giảng dạy Sinh học 11 CTGDPT 2018 để điều chỉnh, hoàn thiện kế hoạch bài dạy.
  4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm theo kế hoạch bài dạy thiết kế mới trên 4 lớp 11 thuộc 2 trường THPT; đánh giá kỹ năng phân tích của học sinh trước và sau tác động thông qua bộ tiêu chí thống nhất.
  5. Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel và IBM SPSS Statistics 22.0 để tính toán giá trị trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$), phân tích độ tin cậy và so sánh kết quả trước - sau thực nghiệm.
Thang điểm Likert (R. Likert) Mức độ cần thiết Mức độ thường xuyên Mức độ hiệu quả Mức độ khả thi Mức độ khó khăn
Mức 1 (1,00 - 1,80) Không cần thiết Không bao giờ Không hiệu quả Không khả thi Không khó khăn
Mức 2 (1,81 - 2,60) Ít cần thiết Hiếm khi Ít hiệu quả Ít khả thi Ít khó khăn
Mức 3 (2,61 - 3,40) Bình thường Thỉnh thoảng Bình thường Khả thi Bình thường
Mức 4 (3,41 - 4,20) Cần thiết Thường xuyên Hiệu quả Khá khả thi Khó khăn
Mức 5 (4,21 - 5,00) Rất cần thiết Rất thường xuyên Rất hiệu quả Rất khả thi Rất khó khăn

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về kỹ năng học tập, cấu trúc của kỹ năng phân tích và mối liên hệ biện chứng giữa phân tích với tổng hợp. Tác giả chỉ ra 4 hình thức diễn đạt kỹ năng phân tích trong dạy học Sinh học: diễn đạt bằng lời, diễn đạt bằng sơ đồ phân tích logic, phân tích bằng bảng hệ thống và diễn đạt dưới dạng tranh sơ đồ.

Ở phần cơ sở thực tiễn, tác giả trình bày kết quả điều tra trên 33 giáo viên và 185 học sinh THPT:

  • Nhận thức về tính cần thiết: 48,5% giáo viên (16 người) đánh giá việc rèn luyện kỹ năng phân tích là "Rất cần thiết", 39,4% (13 người) đánh giá "Cần thiết", 12,1% (4 người) đánh giá "Bình thường"; không có giáo viên nào chọn mức "Không cần thiết" hoặc "Ít cần thiết" (điểm trung bình chung đạt 4,36/5,00).
  • Mức độ thường xuyên và hiệu quả của các phương pháp dạy học: Dạy học hợp tác (thảo luận nhóm) đạt điểm cao nhất ở cả mức độ thường xuyên (4,70) và hiệu quả (4,52). Dạy học giải quyết vấn đề và khám phá đạt trung bình 3,64. Dạy học suy luận tương tự có mức độ thường xuyên 2,88 nhưng hiệu quả đạt 3,88. Hoạt động STEM và trải nghiệm đạt mức độ thường xuyên 2,88.
  • Hình thức, không gian và quy mô tổ chức: Không gian lớp học và phòng thực hành được tổ chức thường xuyên nhất và đạt hiệu quả cao nhất (trung bình 4,12). Không gian cơ sở sản xuất có tần suất 4,00 nhưng hiệu quả chỉ đạt 3,42 do khó khăn trong công tác quản lý. Quy mô dạy học nhóm có điểm hiệu quả đạt 4,06, quy mô cá nhân đạt 3,91 và quy mô toàn lớp đạt 3,64.
  • Đánh giá mức độ khả thi của nội dung dạy học: Mức độ khả thi trung bình của các nội dung trong phần Sinh trưởng và phát triển đạt 3,64. Trong đó, nội dung "Phân tích ý nghĩa phát triển qua biến thái hoàn toàn ở động vật" và "Phân tích đặc điểm tuổi dậy thì" đạt điểm cao nhất (4,00); nội dung "Phân tích mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển" đạt 3,24.
Phương pháp dạy học khảo sát Mức độ thường xuyên ($\bar{X}$) Mức độ hiệu quả ($\bar{X}$)
Dạy học hợp tác (nhóm) 4,70 (Rất thường xuyên) 4,52 (Rất hiệu quả)
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 3,64 (Thường xuyên) 3,64 (Hiệu quả)
Dạy học khám phá 3,64 (Thường xuyên) 3,64 (Hiệu quả)
Dạy học với suy luận tương tự 2,88 (Thỉnh thoảng) 3,88 (Hiệu quả)
Dạy học trực quan 2,61 (Thỉnh thoảng) 3,xx (Bình thường)
Hoạt động trải nghiệm / STEM 2,88 (Thỉnh thoảng) 2,xx - 3,xx

Chương 2: Rèn luyện kĩ năng phân tích cho học sinh trong dạy học nội dung Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật, môn Sinh học 11, Chương trình GDPT 2018

Chương 2 trình bày các giải pháp sư phạm cụ thể được xây dựng dựa trên cấu trúc chương trình và yêu cầu cần đạt của CTGDPT 2018:

  1. Quy trình rèn luyện kỹ năng phân tích gồm 4 bước:
    • Bước 1: Xác định mục tiêu và đối tượng phân tích (giúp học sinh nhận diện nhiệm vụ, các yếu tố cấu thành).
    • Bước 2: Hướng dẫn phân tích mẫu và thiết lập tiêu chí (giáo viên thị phạm thao tác chia nhỏ đối tượng, chỉ rõ mối liên hệ nguyên nhân - kết quả).
    • Bước 3: Học sinh thực hành phân tích theo nhóm/cá nhân (thực hiện bài tập tình huống, phân tích sơ đồ, xử lý phiếu học tập).
    • Bước 4: Tổng hợp, đánh giá và rút ra kết luận (trình bày kết quả, đối chiếu với giả thuyết, khái quát hóa bản chất quy luật sinh học).
  2. Thiết kế hệ thống bài tập và kế hoạch bài dạy:
    • Thiết kế phiếu thảo luận số 1, chuỗi bài tập phân tích về vòng đời sinh vật, các hình thức phát triển qua biến thái hoàn toàn và không hoàn toàn ở động vật.
    • Xây dựng hoạt động trò chơi học tập "Truy tìm mảnh ghép – Giải mã mật thư" nhằm dẫn dắt học sinh phân tích thông tin ẩn giấu trong dữ liệu hình ảnh.
    • Tổ chức hoạt động đóng vai, diễn tiểu phẩm và giải quyết tình huống thực tiễn liên quan đến thay đổi sinh lý tuổi dậy thì, biện pháp chăm sóc sức khỏe sinh sản và điều hòa sinh sản ở động vật.
    • Xây dựng phiếu bài tập phân tích - sắp xếp các giai đoạn phát triển cá thể của sinh vật.
  3. Bộ công cụ kiểm tra, đánh giá: Xây dựng bảng tiêu chí đánh giá kỹ năng phân tích của học sinh (đánh giá năng lực nhận biết vấn đề, kỹ năng thu thập dữ liệu, kỹ năng phân tích nguyên nhân - hệ quả, kỹ năng so sánh và trình bày) kết hợp bảng kiểm quan sát hoạt động của các thành viên trong nhóm học tập.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm từ tháng 9/2023 đến tháng 4/2024 nhằm kiểm chứng tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất:

  • Địa bàn và mẫu thực nghiệm: 4 lớp 11 tại 2 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh với sĩ số tối thiểu 30 học sinh/lớp:
    • Trường THPT Nam Kì Khởi Nghĩa: Lớp 11A5 và Lớp 11A3 (với sự hỗ trợ của giáo viên Nguyễn Văn Luân).
    • Trường THPT Trần Quang Khải: Lớp 11A17 và Lớp 11A10 (với sự hỗ trợ của giáo viên Phạm Thị Thủy Linh).
  • Phương pháp thực nghiệm: Thực hiện đánh giá trước thực nghiệm (Pre-test) bằng bài kiểm tra năng lực đầu vào và đánh giá sau thực nghiệm (Post-test) sau khi học các chủ đề áp dụng quy trình rèn luyện kỹ năng phân tích, sử dụng chung một bộ tiêu chí đánh giá chuẩn.
  • Kết quả thực nghiệm: Dữ liệu định lượng từ các biểu đồ (Hình 3.5 đến Hình 3.10) cho thấy điểm trung bình đánh giá kỹ năng phân tích của học sinh cả 4 lớp (11A5, 11A3, 11A17, 11A10) sau thực nghiệm đều tăng rõ rệt so với trước thực nghiệm. Về mặt định tính, học sinh tại hai trường đã chủ động hoàn thành các phiếu học tập, tích cực tham gia hoạt động nhóm, diễn tiểu phẩm xử lý tình huống và thể hiện sự thành thạo trong việc chia nhỏ đối tượng để phân tích quy luật sinh học.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập được bức tranh thực trạng về dạy học phát triển kỹ năng phân tích môn Sinh học 11 tại các trường THPT: đa số giáo viên khẳng định tính cấp thiết (87,9% đánh giá ở mức cần thiết và rất cần thiết) nhưng việc tổ chức còn gặp rào cản về thời lượng và phương pháp.
  • Khảo sát xác định phương pháp dạy học hợp tác (điểm hiệu quả 4,52) và dạy học giải quyết vấn đề là hai phương pháp mang lại hiệu quả cao nhất để rèn luyện kỹ năng phân tích.
  • Xác định được các nội dung có độ khả thi cao nhất trong phần Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật để rèn luyện kỹ năng phân tích là: hình thức biến thái ở động vật và các vấn đề sinh học tuổi dậy thì (cùng đạt điểm trung bình 4,00/5,00).
  • Thực nghiệm sư phạm trên 4 lớp 11 (11A5, 11A3 - THPT Nam Kì Khởi Nghĩa; 11A17, 11A10 - THPT Trần Quang Khải) khẳng định điểm đánh giá kỹ năng phân tích sau tác động tăng trưởng có ý nghĩa so với trước tác động.

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp về mặt lí luận: Góp phần cụ thể hóa cơ sở lý luận về kỹ năng phân tích trong dạy học Sinh học 11 theo định hướng tiếp cận năng lực của CTGDPT 2018; xác định rõ mối quan hệ giữa phân tích - tổng hợp và các chỉ số hành vi cấu thành kỹ năng phân tích.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Xây dựng quy trình 4 bước rèn luyện kỹ năng phân tích gắn với nội dung Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật.
    • Thiết kế bộ kế hoạch bài dạy minh họa cùng hệ thống công cụ dạy học đa dạng (phiếu học tập, trò chơi "Truy tìm mảnh ghép – Giải mã mật thư", bài tập tình huống đóng vai).
    • Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kỹ năng phân tích và rubric đánh giá hoạt động nhóm, tạo tài liệu thực hành trực tiếp cho giáo viên THPT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Mẫu khảo sát và thực nghiệm sư phạm chỉ tập trung tại 2 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (4 lớp học sinh), chưa mở rộng trên diện rộng ở nhiều loại hình trường khác nhau.
  • Phạm vi nội dung nghiên cứu chỉ giới hạn trong phần "Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật" thuộc chương trình Sinh học 11, chưa bao quát toàn bộ các quá trình sống khác ở cấp độ cơ thể.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng việc vận dụng quy trình rèn luyện kỹ năng phân tích sang các chủ đề khác trong chương trình Sinh học 11 (như Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng, Cảm ứng, Sinh sản) và Sinh học 10, 12.
  • Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm ở các trường THPT thuộc các vùng miền, điều kiện cơ sở vật chất khác nhau nhằm hoàn thiện bộ công cụ đánh giá năng lực nhận thức sinh học.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Sinh viên ngành Sư phạm Sinh học: Cung cấp tài liệu mẫu về quy trình nghiên cứu khoa học giáo dục, phương pháp thiết kế kế hoạch bài dạy theo định hướng phát triển năng lực và kỹ thuật xây dựng công cụ đánh giá.
  • Giáo viên môn Sinh học cấp THPT: Cung cấp nguồn tư liệu thực tế gồm các giáo án, hệ thống bài tập tình huống, phiếu học tập và quy trình tổ chức hoạt động nhóm nhằm triển khai hiệu quả CTGDPT 2018.
  • Cán bộ nghiên cứu phương pháp dạy học: Tham khảo hệ thống bảng hỏi khảo sát thực trạng, thang đo Likert chuẩn hóa và phương pháp xử lý dữ liệu thống kê bằng SPSS trong nghiên cứu giáo dục học.

Câu hỏi thường gặp

1. Kỹ năng phân tích trong khóa luận được định nghĩa và cấu thành từ những thao tác nào?

Trong khóa luận, phân tích được hiểu là việc phân chia đối tượng nhận thức thành nhiều bộ phận, từ đó xem xét cụ thể từng bộ phận để chỉ ra mối quan hệ cấu thành và quan hệ nhân quả giữa chúng, đồng thời đưa ra đánh giá, nhận xét làm rõ bản chất đối tượng. Nhiệm vụ của phân tích gồm: xác định các yếu tố cấu thành, tìm mối liên hệ giữa các yếu tố, xác định yếu tố trung tâm/điều khiển của hệ thống và điều kiện môi trường hoạt động.

2. Khảo sát thực trạng của đề tài được tiến hành trên những đối tượng nào và ở đâu?

Khảo sát thực trạng được thực hiện trên 33 giáo viên Sinh học và 185 học sinh lớp 11 thuộc các trường THPT: THPT Trần Đại Nghĩa (Cần Thơ), THPT Thạnh Phước (Bến Tre), THPT Năng khiếu TDTT Nguyễn Thị Định, THPT Bùi Thị Xuân, THPT Nam Kì Khởi Nghĩa và THPT Trần Quang Khải (TP. Hồ Chí Minh).

3. Phương pháp dạy học nào được giáo viên đánh giá là thường xuyên và hiệu quả nhất khi rèn luyện kỹ năng phân tích?

Theo kết quả khảo sát, phương pháp dạy học hợp tác (làm việc nhóm) đạt điểm trung bình cao nhất ở cả mức độ thường xuyên sử dụng ($\bar{X} = 4,70$ - Rất thường xuyên) và mức độ hiệu quả ($\bar{X} = 4,52$ - Rất hiệu quả).

4. Quá trình thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại những lớp nào và phương pháp đánh giá ra sao?

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại 4 lớp 11 thuộc 2 trường THPT ở TP. Hồ Chí Minh: lớp 11A5 và 11A3 (THPT Nam Kì Khởi Nghĩa), lớp 11A17 và 11A10 (THPT Trần Quang Khải). Quá trình thực nghiệm sử dụng phương pháp đánh giá trước tác động (Pre-test) và sau tác động (Post-test) dựa trên cùng một bộ tiêu chí đánh giá kỹ năng phân tích để đo lường sự tiến bộ về điểm số và năng lực nhận thức của học sinh.

5. Những hoạt động dạy học cụ thể nào đã được tác giả thiết kế trong Chương 2?

Tác giả đã thiết kế kế hoạch bài dạy tích hợp các hoạt động: trò chơi "Truy tìm mảnh ghép – Giải mã mật thư", hoạt động nhập vai diễn tiểu phẩm xử lý tình huống thực tế về tuổi dậy thì và điều hòa sinh sản, bài tập phân tích - sắp xếp vòng đời biến thái của động vật và hệ thống phiếu thảo luận nhóm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Võ Kim Hà đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác lập cơ sở lí luận và thực tiễn vững chắc về rèn luyện kỹ năng phân tích cho học sinh lớp 11 theo CTGDPT 2018. Đề tài đã xây dựng thành công quy trình rèn luyện 4 bước, thiết kế hệ thống bài học minh họa sinh động và bộ công cụ đánh giá kỹ năng phân tích trong nội dung "Sinh trưởng và phát triển ở sinh vật". Kết quả thực nghiệm sư phạm tại 4 lớp học thuộc 2 trường THPT tại TP. Hồ Chí Minh đã chứng minh tính khả thi, độ tin cậy và hiệu quả của các giải pháp sư phạm được đề xuất. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho việc đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học ở cấp trung học phổ thông.