Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số quan niệm công cụ 1. Kĩ năng Kĩ năng là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa, tìm hiểu. Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm cho rằng kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp,.) để giải quyết một nhiệm vụ mới.
Theo tâm lí học đại cương, kĩ năng được hiểu là “năng lực sử dụng các dữ liệu, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định”( [30], tr. Trong từ điển Tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên kĩ năng được định nghĩa là “năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [16]. Theo từ điển Hán - Việt của Phan Văn Các: “Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn, trong đó khả năng được hiểu là sức đã có (về một mặt nào đó) để thực hiện một việc gì” ([15], tr. Theo Polia G: “Trong toán học kĩ năng là khả năng giải các bài toán, thực hiện các chứng minh cũng như phân tích có phê phán các lời giải và chứng minh nhận được”([35], tr.23) Các nhà nghiên cứu như V.Coovaliov, Trần Trọng Thủy.
xem kĩ năng là mặt kĩ thuật, phương thức của hành động. Chỉ xem kĩ năng là một yếu tố và không phải là yếu tố quan trọng nhất đưa đến kết quả hành động Các tác giả như N. quan niệm kĩ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động phức tạp dựa trên sự vận dụng tri thức và kĩ xảo, tức là kĩ năng không chỉ nắm vững lí thuyết về cách thức hành động mà còn bao hàm khả năng vận dụng nó vào thực tế. 9 Như vậy có thể hiểu: kĩ năng là năng lực thực hiện một hành động của con người dựa trên những tri thức về phương thức hành động và kinh nghiệm cũng như năng lực bản thân để đạt được mục đích trong những điều kiện, tình huống hành động nhất định.
Bất cứ một kỹ năng nào được hình thành nhanh hay chậm, bền vững hay lỏng lẻo đều phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ thể, cách luyện tập, tính phức tạp của chính kĩ năng đó. Giao tiếp Trên thực tế giao tiếp được hiểu theo từng lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực là một mối quan hệ nhất định vì thế cách định nghĩa về giao tiếp cũng không giống nhau. Trong giao tiếp xã hội giao tiếp là một trong những nhu cầu quan trọng của con người. Giao tiếp là hành vi và quá trình, trong đó con người tiến hành trao đổi thông tin với nhau, nhận thức, đánh giá về nhau, tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau.
Để giao tiếp con người sử dụng ngôn ngữ (lời nói, chữ viết) và các dấu hiệu phi ngôn ngữ (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, trang phục .) nhằm tạo dựng các mối quan hệ và sự tương tác qua lại trong cuộc sống. Trong dạy học, tính tương tác, tiếp xúc của giao tiếp có thể phân tích qúa trình giao tiếp thành các pha giao tiếp. Mỗi pha giao tiếp có chủ thể mã hóa, nội dung thành thông điệp, truyền qua kênh giao tiếp (lời nói, chữ viết, các bản trình chiếu,.) hướng tới đối tác (đồng chủ thể giao tiếp). Khi đó, đối tác tiếp nhận thông điệp, mở mã và phản hồi (bằng thông điệp và kênh giao tiếp của đối tác) với chủ thể giao tiếp.
Kĩ năng giao tiếp Khi xét giao tiếp toán học trong dạy học toán quan tâm đến đối tác giao tiếp (HS) trên 2 phương diện của một pha giao tiếp. - Phương diện tiếp nhận: HS tiếp nhận thông điệp qua kênh (nghe, đọc,.) và giải mã (bằng ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ toán học) để hiểu được nội dung, tư tưởng toán học trong thông điệp mà chủ thể giao tiếp (GV hay bạn học) đưa ra. 10 - Phương diện trình bày: HS sử dụng ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ toán học để mã hóa nội dung toán học dưới dạng một thông điệp phù hợp, truyền qua kênh giao tiếp để phản hồi (về thông điệp đã nhận) đến chủ thể giao tiếp [4]. Hoạt động giao tiếp tương tác khi trao đổi, thảo luận, thuyết phục, giải thích và đánh giá các ý tưởng, giải pháp toán học trong sự giao lưu với bạn bè, với thầy cô.
Đặc biệt việc sử dụng các bài toán có nội dung thực tiễn mang lại cơ hội cho học sinh được trao đổi, thảo luận lựa chọn, phiên dịch ngôn ngữ tự nhiên sang ngôn ngữ toán học và ngược lại, tạo nên sự linh hoạt trong nhận thức cũng như trong ngôn ngữ diễn đạt. Mặt khác, khi HS có cơ hội nhìn một đối tượng dưới nhiều góc độ khác nhau trong mối tương quan với các hiện tượng khác nhau, sẽ tạo điều kiện cho HS hình thành cách giải quyết sáng tạo. Ngoài ra cần chú ý đến những tình huống toán học có thể kích thích tạo nhu cầu bên trong cho hoạt động giao tiếp của học sinh, tạo thuận lợi cho phát triển giao tiếp. Như vậy hoạt động giao tiếp tương tác đặt học sinh vào môi trường học tập phải biết sử dụng ngôn ngữ toán học để mô tả giải pháp, giải thích, lập luận căn cứ của giải pháp, HS biết lắng nghe, phân tích đánh giá các phương án của bạn, của thầy.
Theo Hội giáo viên toán Mỹ có 4 hình thức giao tiếp toán học sau: - Giao tiếp bằng lời: Học sinh được khuyến khích đặt câu hỏi, diễn giải hoặc làm sáng tỏ các ý tưởng được thể hiện bởi các bạn cùng lớp. HS giải thích và trình bày cách HS phát hiện ra câu trả lời của mình. HS biện minh cho câu trả lời của mình và đề xuất mô hình mới hoặc kết quả tương tự. HS đặt câu hỏi cho bạn, tranh luận, phản ánh và đánh giá kết quả của bạn.
- Giao tiếp bằng cách lắng nghe: HS biết lắng nghe quan điểm của người khscs để hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề trình bày; khi đó hiểu biết của các em 11 đươc tăng lên và đồng thời kết nối, bổ sung các khái niệm toán học thông qua nghe các lý luận khác nhau về các giải pháp. - Giao tiếp bằng cách đọc: HS phát biểu bằng ngôn ngữ từ theo cách hiểu của mình về những gì mình đã đọc. HS ghi chú từ chưa rõ, xác định, đánh dấu các từ khóa. Xác nhận thông tin không liên quan và không phải là cần thiết để giải quyết vấn đề và ghi lại thông tin cần thiết cho giải pháp.
Đọc lại nội dung sau khi giải quyết một số vấn đề để kiểm tra các giải pháp của mình. - Giao tiếp bằng cách viết: Sau khi thảo luận HS viết ra những ý tưởng toán học bằng cách sử dụng biểu diễn trực quan như: hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu, đồ thị, dãy số, phương trình và kí hiệu. Sử dụng kiến thức toán học bằng cách viết ra để minh họa suy nghĩ của mình và các giải pháp hiện tại. Theo dõi viết lại những gì mình cho là quan trọng.
Năng lực giao tiếp của HS tiểu học được trình bày trong chương trình Giáo dục PT Tổng thể là xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp với những biểu hiện cụ thể như sau: - Nhận ra được ý nghĩa của giao tiếp trong việc đáp ứng các nhu cầu của bản thân. - Tiếp nhận được những văn bản về đời sống, tự nhiên và xã hội có sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh như truyện tranh, bài viết đơn giản. - Bước đầu biết sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh, cử chỉ để trình bày thông tin, ý tưởng. - Tập trung chú ý khi giao tiếp; Nhận ra được thái độ của đối tượng giao tiếp.
Kĩ năng giao tiếp toán học 1. Khái niệm kĩ năng giao tiếp toán học Theo quan điểm kiến tạo xã hội trong dạy học, Paul Ernest cho rằng “các tri thức khách quan được cá nhân kiến tạo thông qua mối quan hệ tương tác của họ với GV và với bạn học, tạo thành tri thức chủ quan mang tính cá nhân” [4]. Rõ ràng, quá trình HS xây dựng, chiếm lĩnh tri thức toán học luôn gắn chặt với 12 hoạt động giao tiếp toán học trong học tập môn toán. Trên cơ sở đó, luận văn quan niệm: Giao tiếp toán học là giao tiếp diễn ra giữa GV- HS, giữa HS - HS trong quá trình DH toán, quá trình này sử dụng NNTH là phương tiện quan trọng và chủ yếu để tiếp nhận và chuyển tải các ý tưởng toán học, kiến thức toán học, đưa ra lập luận, chứng minh, giải quyết vấn đề nhằm đạt được mục tiêu học tập môn toán.
Vậy ở luận văn nghiên cứu này ta có thể hiểu: “Rèn luyện kĩ năng giao tiếp toán học cho học sinh là quá trình giúp học sinh tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ toán học để giải quyết yêu cầu toán học. HS phải nghe, đọc hiểu được các khái niệm các định nghĩa hay các biểu tượng toán học từ đó vận dụng để thực hiện các yêu cầu bài tập và trình bày trên vở, bảng hay nói diễn giải lại theo ý hiểu của mình cho bạn và thầy cô”. Theo cách hiểu này, kĩ năng giao tiếp toán học của HS tiểu học bao gồm những biểu hiện sau: - Đọc, viết chính xác các thuật ngữ kí hiệu, biểu tượng toán học - Đọc, nghe hiểu và phản hồi hiệu quả bằng cách nói, viết ra - Chuyển đổi NNTN sang NNTH và ngược lại. Các phương thức cơ bản của giao tiếp toán học Tác giả Hoa Ánh Tường đã chọn phương thức cơ bản của giao tiếp toán học là: Biểu diễn toán học, giải thích, lập luận, trình bày chứng minh góp phần thúc đẩy HS chia sẻ, trao đổi và phản ánh trong quá trình học tập [29].
- Biểu diễn toán học: là sự mô tả về các mối quan hệ giữa các đối tượng và các kí hiệu, là cầu nối để giao tiếp một cách dễ dàng với người khác, có thể là dấu hiệu trên giấy, các hình vẽ, sơ đồ, biểu đồ , đồ thị, các phác thảo hình học và phương trình. - Giải thích: HS đưa các quan điểm về vấn đề được đặt ra để chứng tỏ việc hiểu toán của mình. - Lập luận: Là sắp xếp lí lẽ một cách hệ thống để trình bày, nhằm chứng minh một kết luận về một vấn đề.