mở đầu có 6 tiếng, cách gheo vần, phá luật cũng được sử dụng thường xuyên để tạo nên diện mạo thơ Việt có nét đặc sắc riêng. Kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ trung đại 1. Kỹ năng - một trong ba thành tố cấu thành năng lực đọc hiểu văn bản Theo chương trình Giáo dục phổ thông của Quebec Canada, “năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” 1. Năng lực được hình thành bởi sự kết 1 California Department of Education (2013), Common Core State Standards for English Language Arts & Literacy in History/Social Studies, Science, and Technical Subjects – Kindergarten through Grade Twelve.
8 hợp của những tri thức sẵn có, kết hợp với kỹ năng (chuyển hóa thành hành vi) và những điều kiện tâm lý sẵn sàng để thực hiện hành động. Theo đó, năng lực đọc hiểu văn bản cũng là một loại năng lực được hình thành bởi ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ. Trong công trình nghiên cứu Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản thơ cho học sinh qua dạy học thơ trung đại Việt Nam ở lớp 10 [21] tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan đã đưa ra khung năng lực đọc hiểu văn bản thơ trung đại thể hiện qua ba yêu cầu: Nhận biết nội dung và hình thức bề nổi của văn bản thơ; Hiểu được nội dung về sâu và vai trò của hình thức bài thơ; Phản hồi, đánh giá, vận dụng, liên hệ, so sánh ngoài phạm vi văn bản. Những yêu cầu trên được thể hiện qua sơ đồ sau: Năng lực đọc hiểu thơ trung đại Hiểu được nội dung bề sâu và Phản hồi, đánh giá, vận Nhận biết được nội dung và vai trò của hình thức bài thơ dụng, liên hệ, so sánh ngoài hình thức bề nổi của bài thơ phạm vi văn bản Các chi tiết bề nổi: thể Giải thích ý tưởng cơ So sánh liên văn bản thơ, khổ đoạn, dòng bản từ các yếu tố hình để đánh giá ý tưởng thơ, tên bài, nhân vật thức của bài thơ giá trị của bài thơ trữ tình, … Đối chiếu, phân tích Liên hệ với bối cảnh, Tác giả, bối cảnh ra đời sự phù hợp giữa hình kinh nghiệm bản thân, thức và nội dung khám phá ý nghĩa mới Khái quát hóa nội Rút ra bài học và vận dung, nghệ thuật dụng vào cuộc sống cũng như việc đọc thơ Theo đó, hoạt động đọc hiểu văn bản thơ trung đại đem đến cho học sinh quá trình hình thành, phát triển năng lực thông qua từng hoạt động: từ nhận biết đến thông hiểu và vận dụng.
Đầu tiên, người học tiếp nhận với bề mặt ngôn từ 9 để thu thập tri thức liên quan đến tác giả, tác phẩm, văn bản; nhận biết các yếu tố nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật…) phục vụ cho quá trình phân tích, đánh giá. Tiếp đến, từ những thông tin đã tìm ra trong quá trình nhận biết, người đọc sẽ khám phá bề sâu nội dung và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm thơ dựa trên sự kết nối thông tin. Ở bước này, cần lưu ý khai thác sự độc đáo của ngôn ngữ thơ, bám sát vào đặc trưng thi pháp, tìm ra mạch cảm xúc chủ đạo của văn bản thơ. Như vậy mới có thể hiểu chính xác về nội dung chủ đề và những sáng tạo nghệ thuật trong văn bản.
Cuối cùng, người đọc cần phải đánh giá văn bản. Giá trị của văn bản phải được đặt trong sự tồn tại của nhiều mối liên hệ lịch sử, văn hóa, xã hội, phong cách nghệ thuật của tác giả… Đồng thời, người đọc cần soi chiếu vào màng lọc quan điểm cá nhân để thực hiện quá trình đồng sáng tạo với tác giả. Từ đó, rút ra bài học, kinh nghiệm cho bản thân. Như vậy, để hình thành năng lực đọc hiểu văn bản thơ trung đại yêu cầu người đọc phải khai thác lần lượt và trọn vẹn những yếu tố xuất hiện, liên quan đến văn bản thơ.
Mặt khác, năng lực là tổng hòa của ba yếu tố kiến thức, kỹ năng, thái độ. Bởi thế, những kỹ năng đọc hiểu văn bản thơ trung đại cần phải dựa vào khung năng lực đọc hiểu nêu trên. Nói đến “kỹ năng” là nói đến một thói quen thao tác hình thành từ quá trình lặp lại nhiều lần một hành động nhất định nào đó. Bản chất của kỹ năng là áp dụng lý thuyết, kiến thức có được vào giải quyết một số công việc thực tiễn.
Trong công trình nghiên cứu Kỹ năng dạy học và tiêu chí đánh giá, tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng: “Kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học - tâm lí khác của cá nhân như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân… để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định” [15]. Hiểu như vậy, kỹ năng được hình thành theo tính cá thể hóa và được biểu hiện tùy theo điều kiện của chủ thể. Người có kỹ năng là người sở hữu nguồn tri thức chủ động và biến tri thức ấy 10 thành hành động. Thành công hay không còn phụ thuộc vào những yếu tố xung quanh của người thực hiện.
Với quan điểm này, kỹ năng chính là quá trình thực hiện hành động từ những nền tảng cơ sở đã có. Kỹ năng còn là khả năng con người thực hiện công việc và đạt hiệu quả nhưng được đặt trong những điều kiện, bối cảnh cụ thể. Kỹ năng không đơn thuần là quá trình thực hiện hành động từ những nền tảng cơ sở đã có mà còn là kết quả dựa trên mối quan hệ giữa kỹ năng và mục đích, phương tiện, điều kiện hành động. Như vậy, để có thể hình thành kỹ năng, con người cần có một số nền tảng cơ sở như: kiến thức, kinh nghiệm, tư duy… và đưa những yếu tố đó trở thành hệ thống thao tác lặp đi lặp lại nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể.
Đối với người học môn Ngữ văn, quá trình hình thành kỹ năng chính là cách mà học sinh vận dụng những tri thức sẵn có của bản thân để thực hiện khám phá bản chất của nhiệm vụ học tập (câu hỏi, bài tập, dự án, sản phẩm…). Người học được coi là có kỹ năng khi biết thực hiện thành thạo, chuẩn xác, nhuần nhuyễn các hoạt động cần thiết dựa trên nền tảng bản thân sẵn có. Thành quả của kỹ năng là giải quyết được nhiệm vụ học tập. Các cấp độ của kỹ năng đọc hiểu văn bản Đọc - hiểu là một quá trình từ tri nhận ngôn ngữ đến tư duy, đánh giá thông tin mà bản thân tiếp nhận.
Đối với tác phẩm văn học, để có thể đọc - hiểu trọn vẹn thì thật sự cần một quy trình. Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi sử dụng công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Kỹ năng đọc hiểu văn” [14]. Qua đó, tác giả Nguyễn Thanh Hùng đưa ra 4 cấp độ của kỹ năng đọc hiểu tác phẩm văn chương. Kỹ năng đọc chính xác Đọc chính xác là điều kiện tiên quyết mà người đọc phải đáp ứng trong quá trình đọc - hiểu.
Đây là hoạt động người đọc phải tiếp nhận đúng những thông tin đến từ văn bản (ngôn ngữ) và ngoài văn bản (ý tứ). Để có thể đọc chính xác, người đọc cần có năng lực quan sát cùng tri thức xã hội cơ bản. Đặc biệt là 11 trong tác phẩm văn học thì đọc chính xác là nền tảng cơ bản để người đọc khám phá những vẻ đẹp ngôn từ và giá trị nội dung của tác phẩm. Yêu cầu cơ bản của kỹ năng đọc chính xác là: đọc đúng văn bản, hiểu đúng thông tin và liên tưởng có căn cứ.
Căn cứ ấy phụ thuộc vào ngữ cảnh, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm hay phong cách nghệ thuật của tác giả. Chẳng hạn, khi tìm hiểu đoạn trích Cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều), để hiểu được câu thơ “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”, người đọc cần liên kết với câu thơ bên trên “Ngày xuân con én đưa thoi” để thấy được ngữ cảnh ở đây là mùa xuân. Từ đó, xác định thời điểm tác giả nói đến là những ngày cuối cùng, tháng cuối cùng của mùa đầu tiên trong năm. Như vậy, người đọc phải đặt câu thơ vào trong ngữ cảnh để hiểu chính xác.
Bên cạnh đó, đọc chính xác còn yêu cầu người đọc phải tiếp cận đầy đủ, không thừa, không thiếu một ký tự nào trong văn bản. Ký tự đó có thể là âm tiết, có thể là dấu câu hay cách ngắt nhịp độc đáo. Chẳng hạn, trong bài thơ "Mẹ" nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh có viết: “Con là lửa ấm quanh đời mẹ mãi Con là trái xanh mùa gieo vãi Mẹ nâng niu. Nhưng giặc đến nhà Nắng đã chiều.
vẫn muốn hắt tia xa!” Người đọc cần chú ý phân tích tác dụng của dấu câu: dấu chấm trong câu thứ ba, dấu ba chấm và dấu chấm than trong câu thơ cuối. Để không hiểu sai và không bỏ sót ý nghĩa nghệ thuật của các tác phẩm văn học trong quá trình hướng dẫn đọc - hiểu, giáo viên cần tạo cho học sinh một thói quen đặt ra những câu hỏi để thể hiện sự logic trong các sự kiện và cảm xúc, phát hiện ra những điểm sáng nghệ thuật của tác phẩm. Kỹ năng đọc phân tích Thực hành kĩ năng đọc phân tích “phải có cái nhìn xuyên suốt từ việc xác định loại thể - tên tác phẩm - chủ đề - đề tài - nhân vật trung tâm - các phương 12 tiện xây dựng hình tượng nghệ thuật như lớp từ then chốt, biện pháp tu từ như: ẩn dụ tượng trưng và biểu tượng nghệ thuật để phân tích chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm và khái quát ý nghĩa thành tư tưởng chủ đề” [14; 99]. Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ.
Nó chỉ tồn tại khi vận động trong quá trình của nhà văn - tác phẩm - độc giả. Trong quá trình ấy, độc giả chính là chủ thể khám phá, đồng sáng tạo cùng các lớp ngôn từ thông qua hoạt động đọc - hiểu. Bởi thế mà để có thể cảm hiểu hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học, người đọc cần phải chú trọng những từ ngữ đắt, độc đáo, cách sử dụng khác lạ, ấn tượng…; cần dựa trên mối liên hệ về nghĩa giữa các từ ngữ, các câu văn để thiết lập một hình ảnh liên tưởng hấp dẫn.