Tổng quan nghiên cứu

Đào tạo sau đại học giữ vai trò cốt lõi trong việc xây dựng tiềm lực trí tuệ quốc gia. Tính đến năm 2010, mạng lưới đào tạo sau đại học tại Việt Nam đã mở rộng với gần 150 cơ sở, tăng gấp 2 lần so với quy mô 77 cơ sở vào năm 1990. Trong bối cảnh đó, chuyên ngành Chính sách Khoa học và Công nghệ tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ đóng vai trò tiên phong trong việc cung cấp nguồn nhân lực quản trị chiến lược cho đất nước. Từ năm 1991 đến năm 2010, Viện đã tiếp nhận hơn 158 học viên và đào tạo thành công 126 thạc sĩ, đóng góp đáng kể cho hệ thống các viện nghiên cứu, trường đại học và cơ quan quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, công tác đào tạo sau đại học tại Viện đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Tỷ trọng ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động đào tạo của Viện luôn ở mức thấp, chỉ dao động từ 8,43% đến 13,10% tổng kinh phí hoạt động hàng năm. Đi đôi với hạn chế tài chính là sự thiếu hụt cơ chế thu hút đội ngũ giảng viên có học hàm, học vị cao tham gia giảng dạy. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhận diện toàn diện các rào cản tài chính và rào cản tổ chức, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm chuyên nghiệp hóa công tác đào tạo và gia tăng sức hút đối với nhân lực trình độ cao. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thực tiễn hoạt động đào tạo thạc sĩ của Viện trong giai đoạn từ năm 1991 đến hết năm 2010. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hoàn thiện mô hình liên kết viện - trường và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học công nghệ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và kinh tế học tri thức. Nghiên cứu vận dụng định nghĩa chuẩn hóa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) trong Cẩm nang Canberra năm 1995, xác định nhân lực khoa học và công nghệ là lực lượng sở hữu văn bằng chuyên môn hoặc có kỹ năng tương đương tham gia thường xuyên vào các hoạt động sáng tạo, phổ biến và ứng dụng tri thức. Đồng thời, nghiên cứu tiếp thu quan điểm của UNESCO về vai trò của đội ngũ trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng trong khoa học kỹ thuật.

Về mặt quản trị nhân lực, luận văn khai thác mô hình thu hút nhân tài dựa trên nguyên tắc kiềng 3 chân: Trọng thị (tạo dựng môi trường làm việc cởi mở, dân chủ), Trọng dụng (trao quyền tự chủ học thuật, bố trí đúng năng lực sở trường) và Trọng đãi (đảm bảo lợi ích vật chất, chế độ thù lao và điều kiện đãi ngộ tương xứng). Bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam với tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ chỉ đạt khoảng hơn 10% trong suốt hơn 20 năm qua càng khẳng định tính cấp thiết của việc thu hút nhân lực trình độ cao vào đào tạo sau đại học.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp kết hợp dữ liệu thống kê nội bộ từ phòng Tổ chức cán bộ và phòng Tài vụ của Viện. Dữ liệu bao gồm thông tin chi tiết của toàn bộ 55 cán bộ tại Viện, hồ sơ chuyên môn của 15 giảng viên tham gia giảng dạy giai đoạn 2005-2010, cùng hồ sơ học tập của 158 học viên qua 15 khóa đào tạo từ năm 1991 đến năm 2010.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với đội ngũ cán bộ cơ hữu của Viện và chọn mẫu chuyên gia có chủ đích đối với lực lượng giảng viên thỉnh giảng ngoài Viện. Phương pháp phân tích tài liệu và thống kê mô tả được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác các biến số về cơ cấu học vị, độ tuổi, tỷ lệ kinh phí đào tạo và mức độ biến động quy mô tuyển sinh. Ngoài ra, phương pháp so sánh đối chuẩn pháp lý được sử dụng để phân tích sự tương thích giữa quy chế đào tạo nội bộ với hệ thống văn bản pháp quy như Luật Giáo dục 1998, Luật Giáo dục sửa đổi 2005, Thông tư 51/2008/TT-BTC và Thông tư liên tịch 49/2007/TTLT/BTC-BGDĐT.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện then chốt về thực trạng và rào cản thu hút nhân lực chất lượng cao tại đơn vị:

Thứ nhất, tồn tại nghịch lý lớn trong việc khai thác nhân lực nội bộ. Đội ngũ cán bộ tại Viện có trình độ sau đại học chiếm tới 52,62% tổng nhân lực (trong đó có 10 Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học chiếm 17,54%, 20 Thạc sĩ chiếm 35,08%). Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ cơ hữu tham gia giảng dạy thường xuyên chỉ chiếm 40% (6 người), trong khi 60% lực lượng giảng dạy (9 người) phải phụ thuộc vào chuyên gia thỉnh giảng ngoài Viện.

Thứ hai, rào cản tài chính và định mức thù lao quá lạc hậu. Kinh phí đào tạo hàng năm của Viện chỉ ở mức hơn 100 triệu đồng, tương ứng mức bình quân 4 triệu đồng cho mỗi học viên một năm. Theo quy định tại Thông tư 51/2008/TT-BTC, thù lao cho giảng viên có học vị Tiến sĩ khoa học, Tiến sĩ tối đa không quá 300.000 đồng một buổi (4 tiết), tương đương 75.000 đồng một tiết. Mức chi này không phân biệt giữa bậc đại học và sau đại học, tạo ra sự bất hợp lý lớn so với công sức nghiên cứu chuẩn bị bài giảng.

Thứ ba, cơ cấu đội ngũ giảng viên ngoài Viện đang đối mặt với nguy cơ già hóa nghiêm trọng. Trong số 9 giảng viên thỉnh giảng, có 1 Giáo sư, 3 Phó giáo sư và 5 Tiến sĩ/Tiến sĩ khoa học. Xét theo độ tuổi, có tới 66,67% (6 người) ở độ tuổi trên 60 và 33,33% (3 người) ở độ tuổi từ 51 đến 60, hoàn toàn không có giảng viên nào dưới 50 tuổi.

Thứ tư, quy mô tuyển sinh sút giảm mạnh làm giảm động lực giảng dạy. Sau khi thực hiện liên kết đào tạo, số lượng học viên giảm rõ rệt: năm 2005 tuyển được 15 học viên, năm 2006 giảm xuống 4 học viên, năm 2007 có 8 học viên, năm 2008 có 5 học viên, năm 2009 có 7 học viên và năm 2010 chỉ có 5 học viên. Quy mô lớp học quá nhỏ (chỉ từ 4 đến 8 học viên) làm suy giảm không khí trao đổi học thuật và sự nhiệt huyết của giảng viên.

Thảo luận kết quả

Khi mô hình hóa dữ liệu trên biểu đồ cơ cấu và bảng ma trận tương quan, có thể thấy rõ mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa mức độ thỏa mãn về tài chính, tính chuyên nghiệp trong tổ chức với tỷ lệ sẵn sàng tham gia giảng dạy của các nhà khoa học hàng đầu. Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này bắt nguồn từ sự phân tách giữa nghiên cứu và đào tạo theo mô hình truyền thống.

Kể từ khi thực hiện Điều 38 Luật Giáo dục 1998 quy định viện nghiên cứu phải liên kết với trường đại học để đào tạo thạc sĩ, việc phối hợp giữa Viện và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) vẫn mang tính hình thức. Viện không có quyền chủ động hoàn toàn về chương trình, lịch trình đào tạo thường xuyên bị động, trong khi Ban Đào tạo sau đại học chỉ có 2 cán bộ chuyên trách nên việc điều phối gặp nhiều hạn chế. Sự thiếu hụt các quy định hành chính nội bộ mang tính bắt buộc gắn nghiên cứu với nhiệm vụ đào tạo khiến việc mời giảng viên tại chỗ hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhiệt tình cá nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả phân tích, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tháo gỡ rào cản:

Thứ nhất, đổi mới cơ chế quản lý tài chính và nâng định mức thù lao giảng dạy. Đơn vị cần xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ đặc thù cho đào tạo sau đại học, nâng mức thù lao cho giảng viên có học vị Tiến sĩ, Phó Giáo sư, Giáo sư lên gấp 2 đến 3 lần so với định mức hành chính thông thường. Đồng thời, cần trích tối thiểu từ 15% đến 20% nguồn kinh phí từ các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ để hỗ trợ trực tiếp cho học viên làm luận văn và chi trả cho cán bộ hướng dẫn khoa học.

Thứ hai, kiện toàn và chuyên nghiệp hóa mô hình tổ chức bộ máy đào tạo. Cần bổ sung biên chế cho Ban Đào tạo sau đại học từ 2 cán bộ lên 4 đến 5 cán bộ chuyên trách có năng lực quản trị giáo dục hiện đại. Ban hành sổ tay quy trình chuẩn hóa từ khâu mời giảng, ký kết hợp đồng, thanh quyết toán kho bạc đến quản lý điểm số trước quý IV năm 2011.

Thứ ba, gắn kết nghĩa vụ nghiên cứu khoa học với công tác đào tạo nguồn nhân lực. Viện cần ban hành quy định bắt buộc: 100% cán bộ nghiên cứu có học vị Tiến sĩ trở lên phải tham gia tối thiểu 30 đến 45 tiết giảng dạy hoặc nhận hướng dẫn khoa học từ 1 đến 2 học viên cao học mỗi năm. Đây phải được coi là tiêu chí cứng trong đánh giá thi đua và phân bổ đề tài nghiên cứu hàng năm.

Thứ tư, tái cấu trúc thỏa thuận liên kết viện - trường bền vững. Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ cùng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cần ký kết nghị định thư hợp tác giai đoạn 2011-2015, phân định rõ ràng quyền tự chủ học thuật, trách nhiệm quản lý và tỷ lệ phân chia học phí nhằm tạo động lực thu hút người học, đặt mục tiêu nâng quy mô tuyển sinh lên 15 đến 20 học viên mỗi khóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn phong phú cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là Lãnh đạo các viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học. Công trình cung cấp giải pháp thực tế để tháo gỡ các vướng mắc trong mô hình liên kết đào tạo viện - trường, tối ưu hóa nguồn lực nhân sự tại chỗ và nâng cao chất lượng các chương trình cao học.

Nhóm thứ hai là Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và giáo dục (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính). Luận văn là cơ sở thực chứng để đánh giá tác động của các văn bản pháp luật, từ đó đề xuất sửa đổi định mức kinh phí đào tạo tại các thông tư tài chính công.

Nhóm thứ ba là Giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia thỉnh giảng. Nghiên cứu giúp các nhà khoa học hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và cơ chế phối hợp nghiên cứu - đào tạo trong hệ thống các tổ chức khoa học công nghệ.

Nhóm thứ tư là Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ, Quản lý giáo dục và Chính sách công. Tài liệu đóng vai trò là một case study điển hình về quản trị nhân lực chất lượng cao trong khu vực công.

Câu hỏi thường gặp

Đâu là rào cản tài chính lớn nhất trong công tác đào tạo sau đại học tại Viện? Rào cản lớn nhất là định mức thù lao quá thấp theo Thông tư 51/2008/TT-BTC, chỉ từ 300.000 đến 400.000 đồng cho một buổi giảng 4 tiết của Tiến sĩ hoặc Giáo sư. Định mức này không phân biệt giữa giảng dạy đại học và sau đại học, đồng thời mức hỗ trợ từ ngân sách chỉ đạt 4 triệu đồng cho mỗi học viên một năm, gây khó khăn cho việc đầu tư trang thiết bị chuyên sâu.

Vì sao Viện có hơn 50% cán bộ trình độ sau đại học nhưng ít tham gia giảng dạy? Nguyên nhân chủ yếu do Viện chưa có quy định bắt buộc gắn kết trách nhiệm nghiên cứu với đào tạo. Cán bộ nghiên cứu thường ưu tiên toàn bộ thời gian cho các đề tài, dự án khoa học. Thêm vào đó, chế độ tài chính và quy trình hành chính thanh quyết toán phức tạp khiến giảng viên nội bộ chưa có đủ động lực cống hiến cho công tác đào tạo thạc sĩ.

Luật Giáo dục 1998 đã tạo ra bước ngoặt gì cho đào tạo thạc sĩ tại Viện? Theo Điều 38 Luật Giáo dục 1998, các viện nghiên cứu không được đào tạo thạc sĩ độc lập mà bắt buộc phải liên kết với trường đại học. Sự chuyển đổi này khiến Viện mất đi tính chủ động hoàn toàn, quá trình liên kết với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phát sinh nhiều bất cập trong phân cấp quản lý và sắp xếp lịch giảng dạy.

Cơ cấu độ tuổi của đội ngũ giảng viên ngoài Viện đặt ra thách thức nào? Có tới 66,67% giảng viên thỉnh giảng ngoài Viện đã trên 60 tuổi và 33,33% từ 51 đến 60 tuổi. Tình trạng thiếu vắng đội ngũ giảng viên kế cận dưới 50 tuổi tạo ra nguy cơ đứt gãy nguồn nhân lực chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Chính sách Khoa học và Công nghệ khi các nhà khoa học cao niên nghỉ hưu hoàn toàn.

Quy mô lớp học từ 4 đến 8 học viên tác động thế nào đến chất lượng đào tạo? Quy mô học viên quá ít làm giảm nguồn thu học phí để tái đầu tư cơ sở vật chất, đồng thời làm mất đi môi trường thảo luận học thuật sôi nổi. Lớp học vắng vẻ cũng làm suy giảm trực tiếp sự hào hứng và nhiệt huyết truyền đạt tri thức của các giảng viên giàu kinh nghiệm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý và thu hút nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao theo chuẩn mực OECD và thực tiễn Việt Nam.
  • Công trình phân tích sâu sắc thực trạng đào tạo 126 thạc sĩ tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ giai đoạn 1991-2010, chỉ ra các điểm nghẽn về tài chính và thể chế tổ chức.
  • Đã nhận diện 4 rào cản mang tính cốt lõi: định mức chi trả thấp, quy trình tổ chức bị động, thiếu ràng buộc trách nhiệm nội bộ và già hóa đội ngũ thỉnh giảng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá có tính ứng dụng cao, bao gồm cải cách cơ chế tài chính nội bộ, tăng quy mô cán bộ chuyên trách, gắn kết nghiên cứu - đào tạo và chuẩn hóa liên kết viện - trường.
  • Kế hoạch triển khai giai đoạn 2011-2015 đặt mục tiêu khôi phục quy mô tuyển sinh từ 15 đến 20 học viên mỗi khóa, nâng tỷ trọng giảng viên nội bộ đạt trên 60%. Các cơ sở nghiên cứu và đào tạo sau đại học cần áp dụng ngay các giải pháp này nhằm tối ưu hóa nguồn lực chất xám, góp phần phát triển bền vững nền khoa học công nghệ nước nhà.