Phần mở đầu Chƣơng 1. Cơ sở lý luận Chƣơng 2. Thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại Viện Thông tin KHXH Chƣơng 3. Nhận diện một số rào cản trong quá trình phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học tại Viện Thông tin KHXH Kết luận và khuyến nghị 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.
Thông tin và thông tin khoa học Thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học và cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đại chúng ta. Mọi quan hệ, mọi hoạt động của con ngƣời đều dựa trên một hình thức giao lƣu thông tin nào đó. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, thông tin ngày nay đã trở thành nguồn tài nguyên đặc biệt và nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia, là công cụ điều hành sản xuất và quản lý xã hội. Cho đến ngày nay, có rất nhiều cách hiểu về thông tin, theo quan niệm của triết học thì thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh… hay nói rộng hơn bằng tất cả các phƣơng tiện tác động lên giác quan của con ngƣời.
Một số nhà khoa học về lĩnh vực thông tin cho rằng “Thông tin là tất cả sự vật/ sự kiện/ ý tƣởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con ngƣời và thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp”. Trong Từ điển Oxford English Dictionary cho rằng: “Thông tin là điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức”3. Có từ điển khác thì đồng nhất thông tin với kiến thức “thông tin là điều mà ngƣời ta biết” hoặc “thông tin là sự chuyển giao tri thức là tăng thêm sự hiểu biết của con ngƣời”. Bên cạnh các loại thông tin bằng văn bản, còn có thông tin hình ảnh, thông tin số, thông tin đa phƣơng tiện.
Trong Nghị định số 159/2004/NĐ – CP ngày 31/8/2004 về Hoạt động Thông tin KH&CN đƣợc có định nghĩa coi là bao quát nhất từ cách tiếp cận hệ thống: “Thông tin là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội”. Vì thế, trong luận văn của mình, tác giả dùng khái niệm này để hiểu về thuật ngữ thông tin khoa học. McArthur: The Oxford Companion to the English language. Oxford University Press 1992 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Phân biệt thông tin khoa học và thông tin đại chúng Đa số các thông tin có thể đƣợc truyền trực tiếp từ ngƣời sang ngƣời, hay có thể đƣợc truyền thông qua các phƣơng tiện truyền thông nhƣ báo chí phát thanh(báo nói), truyền hình (báo hình), Internet (báo mạng).
Đó là hoạt động thông tin đại chúng. Với những loại thông tin này thông thƣờng dành cho đông đảo mọi thành viên trong xã hội tiếp nhận, không kể trình độ, nghề nghiệp hay tuổi tác. Thông tin đại chúng thông báo những vấn đề, hiện tƣợng, sự kiện của đời sống xã hội. Thông tin đại chúng có đặc trƣng là khối lƣợng thông tin chuyển giao khá lớn với số lƣợng ngƣời sử dụng lớn.
Còn với thông tin khoa học thì đối tƣợng sử dụng thông tin khoa học có thể là các nhà lãnh đạo và quản lý, các nhà nghiên cứu, giáo sƣ, sinh viên, kỹ sƣ, hay các nhà sản xuất và kinh doanh4… 1. Phân loại thông tin. Có rất nhiều cách phân loại thông tin khác nhau và việc phân loại phụ thuộc vào từng tiêu chí cụ thể: - Phân loại theo nội dung của thông tin: + Thông tin khoa học và kỹ thuật: bao gồm các kết quả nghiên cứu phát minh, các phƣơng pháp, sản phẩm, các tính chất công nghệ, các tiêu chuẩn, các trang thiết bị + Thông tin kinh tế + Thông tin văn hoá và xã hội - Phân loại theo giá trị và quy mô sử dụng + Thông tin chiến lƣợc + Thông tin tác nghiệp + Thông tin thƣờng thức - Phân loại theo đối tƣợng sử dụng + Thông tin đại chúng: dành cho mọi ngƣời + Thông tin khoa học: dành cho ngƣời dùng tin là các nhà nghiên cứu, các giáo sƣ, sinh viên… 4 Đoàn Phan Tân: Thông tin học. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
Hà Nội, 2001, tr. 43 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phân loại theo mức độ xử lý nội dung + Thông tin cấp 1: thông tin gốc + Thông tin cấp 2: thông tin tín hiệu và chỉ dẫn + Thông tin cấp 3: tổng hợp các thông tin cấp 1 - Phân loại theo hình thức thể hiện thông tin + Thông tin nói + Thông tin viết + Thông tin bằng hình ảnh + Thông tin điện từ hay thông tin số + Thông tin đa phƣơng tiện Do có những đặc thù khác nhau nên mỗi loại thông tin có các sản phẩm thông tin khác nhau. Ví dụ nhƣ thông tin cấp 1 thì sản phẩm của nó là các bài giảng, các báo cáo khoa học, đƣợc thể hiện trên sách, tạp chí, luận án, và đƣợc minh hoạ bằng các hình ảnh cụ thể với các bản vẽ và sơ đồ. Thông tin cấp hai thì có các sản phẩm là thƣ mục, tài liệu chỉ dẫn và các bản tóm tắt tài liệu.
Với thông tin cấp 3 thì sản phẩm là các bài tổng kết, các bài tổng luận hay lƣợc thuật và cuối cùng là một ngân hàng thông tin 1.4 Các thuộc tính của thông tin - Giao lƣu thông tin: Thông tin tiềm tàng khắp nơi trong xã hội. Đó là các nguồn thông tin về lao động, đất đai, môi trƣờng, thông tin về khoa học và công nghệ, thông tin về thị trƣờng và sản xuất kinh doanh. Những thông tin nhƣ vậy chỉ có ý nghĩa khi đƣợc truyền đi, phổ biến và đƣợc sử dụng. Để phân biệt nội dung thông tin cần truyền đi và cách thức chuyển giao thông tin, ngƣời ta tách nội dung thông tin ra khỏi hình thức biểu diễn của nó.
Các hình thức biểu diễn thông tin (các ký hiệu, dấu hiệu, hình ảnh.) là hữu hạn nhƣng nội dung của thông tin (khái niệm, ý tƣởng, sự kiện, tên.) là vô hạn. Trong đời sống hàng ngày, thông tin đƣợc biểu diễn bằng ngôn ngữ. Khi đó, thông tin đƣợc diễn tả bằng cú pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ mà ngƣời ta sử dụng. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khối lƣợng thông tin: Trong lý thuyết thông tin, ngƣời ta xác định số lƣợng thông tin dựa vào việc càng nhiều tín hiệu sinh ra từ nguồn tin thì càng có nhiều thông tin đƣợc truyền đi, khi đó thông tin đƣợc mô tả bằng sự thống kê và tổ hợp các dấu hiệu phát ra từ nguồn tin thì càng có nhiều tin đƣợc truyền đi.
Thông báo đƣợc di chuyển bằng cách ghi tín hiệu lên một dạng vật chất trung gian, tức là một cái giá, gọi là vật mang tin. Vật mang tin có thể là giấy, sóng điện từ, băng từ. Chất lƣợng thông tin: Để đạt mục đích sử dụng, thông tin phải đƣợc cập nhập một cách đầy đủ và chính xác. Điều đó cho phép ngƣời nhận có thể lựa chọn thông tin theo yêu cầu của họ.
Nếu thông tin không đầy đủ thì mức độ không chắc chắn cần phải đƣợc chỉ ra, hoặc phải tuân thủ một quy ƣớc nào đó. Trƣờng hợp thông tin bị coi là chất lƣợng thấp khi những thông tin đó bị thông tin sai lệch hoặc bị bóp méo. Nó có thể trình bày một cách nghèo nàn hoặc thậm chí khó lĩnh hội đối với ngƣời nhận 1.5 Vai trò của thông tin khoa học Ngày nay, mọi ngƣời đều thừa nhận nƣớc nào biết sử dụng nhanh hơn, tốt hơn và hiệu quả hơn những thành tựu khoa học và kỹ thuật thế giới thì nƣớc đó sẽ thu đƣợc những kết quả lớn hơn trong việc phát triển kinh tế quốc dân. Thông tin khoa học có vai trò quan trọng đối với các linh vực nhƣ: *Đối với nguồn lực phát triển của đất nƣớc Ngay từ những năm cuối thế kỷ XX, thông tin đã đƣợc nhìn nhận là nguồn tài nguyên “thiên nhiên”, tuy nhiên nguồn tài nguyên này đƣợc cho là vô hạn với vốn tri thức của con ngƣời luôn luôn không ngừng sáng tạo.
Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này cũng cho ra đời của cải vật chất giống nhƣ các nguồn tài nguyên khác. Ở nƣớc ta, từ đầu những năm 1990, nhiều Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cập đến vai trò của thông tin khoa học và nêu ra yêu cầu đối với hoạt động thông tin khoa học. Đảng đã từng chỉ rõ, “Công tác thông tin góp phần tích cực rút ngắn quá trình từ nghiên cứu đến sản xuất, nâng cao chất lượng, quản lý và lãnh đạo. Cần “hết sức coi trọng phục vụ thông tin cho lãnh đạo và quản lý, đúng nhu 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cầu, bằng những hình thức thích hợp, góp phần nâng cao chất lượng quyết định của lãnh đạo các cấp”5.
Cần “xây dựng hệ thống thông tin hiện đại về khoa học và công nghệ, kịp thời cung cấp thông tin mới cho các cơ quan lãnh đạo và quản lý, các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở sản xuất” 6. Cần “hiện đại hoá hệ thống thông tin và bảo đảm cung cấp thông tin”7. Bên cạnh đó, thông tin có thể mở rộng và phát triển không ngừng và chỉ bị hạn chế bởi thời gian và khả năng nhận thức của con ngƣời. Do đặc tính của thông tin là lan truyền một cách tự nhiên, thông tin không bao giờ cạn đi mà ngƣợc lại nó luôn phong phú do đƣợc tái tạo và bổ sung thêm các nguồn thông tin mới.
nên thông tin trở thành cơ sở cho nhiều hoạt động xã hội nhƣ nghiên cứu, giáo dục, xuất bản, tiếp thị. ở nhiều khía cạnh, thông tin đã trở thành một loại hàng hoá. Do vậy, thông tin còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế và sản xuất. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, khoa học, kỹ thuật và sản xuất là các bộ phận có quan hệ khăng khít với nhau, tạo thành chu trình “khoa học - kỹ thuật - sản xuất” thông qua tác động của quản lý.
Có thể nói, vai trò của thông tin đều đƣợc mọi ngƣời khẳng định, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, thời đại của “xã hội thông tin”, “cách mạng thông tin toàn cầu”.