CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.1 Các nghiên cứu về việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích ở khu vực công Zhang (2005) đã thực hiện nghiên cứu và tìm ra các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến việc phát triển hệ thống kế toán tài chính tại Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1949 trở đi. Trong nghiên cứu này, tác giả đã thu thập dữ liệu một cách rất công phu nhằm có thể thấy được bức tranh toàn diện các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán hiện tại của Trung Quốc lúc bấy giờ; có thể kể đến các dữ liệu tác giả đi tìm hiểu như việc thay đổi số lượng nhân viên kế toán, hệ thống kế toán tại các đơn vị, chức năng kế toán, báo cáo tài chính, phương pháp kế toán, các quản lý kế toán đối với tài sản cố định (TSCĐ), việc quản lý quỹ,. Từ đó, tác giả đưa ra 06 nhân tố tổng quát ảnh hưởng đến việc phát triển hệ thống kế toán là nhân tố chính trị, nhân tố pháp luật, nhân tố kinh tế, nhân tố quốc tế, nhân tố văn hóa và nhân tố giáo dục. Nghiên cứu này không hướng đến hệ thống kế toán khu vực công, tuy nhiên những nhân tố được tác giả tìm ra ở trên vẫn được sử dụng làm nền tảng cho các nhiều nghiên cứu sau tại lĩnh vực kế toán công.
Ngoài ra, nghiên cứu này được thực hiện với phạm vi thời gian là sau năm 1949 – năm thành lập Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được cho là có nền kinh tế khá tương đồng với nền kinh tế của Việt Nam hiện tại. Nghiên cứu của Cristina Silvia Nistora và cộng sự (2013) dựa theo nền tảng nghiên cứu của Zhang (2005) để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thay đổi, phát triển hệ thống kế toán công ở Romania. Đây là nghiên cứu được áp dụng vào khu vực kế toán công, khẳng định lại và chỉ ra rằng có 06 nhân tố ảnh hưởng là nhân tố chính trị, nhân tố pháp lý, nhân tố kinh tế, nhân tố giáo dục, nhân tố văn hóa xã hội và nhân tố nghề nghiệp. Điểm mới của nghiên cứu này là đã dựa vào 06 nhân tố trên để phân tích cho 09 giai đoạn 123doc 8 trong lịch sử hệ thống kế toán công tại Romania, từ đó thấy được sự phát triển từ quá khứ đến hiện tại và đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố.
Nghiên cứu của Ouda (2004) đã khẳng định một lần nữa việc muốn cải thiện được chất lượng BCTC thì bắt buộc phải chuyển đổi cơ sở kế toán từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích. Trong bài nghiên cứu, tác giả đã xác định 09 nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi cơ sở kế toán theo mô hình sau: AC = f (MC + PBS + PAS + CS + WC + CC + BAC + SAI+ ITC) AC = Việc thay đổi cơ sở kế toán (Accounting Changes) f = Hệ số (Function) MC = Nhân tố quản lý (Management Changes) PBS = Nhân tố chính trị (Political and Bureaucracy Support) PAS = Nhân tố ngành nghề và giáo dục (Professional and Academic Support) CS = Nhân tố truyền thông (Communication Strategy) WC = Nhân tố sẵn sàng thay đổi (Willingness to Change) CC = Nhân tố hợp tác (Consultation and Co-ordination) BAC = Nhân tố ngân sách (Budgeting of Adoption Costs) SAI = Nhân tố đặc trưng kế toán (Specific Accounting Issues) ITC = Nhân tố công nghệ thông tin (Information Technology capability) Ngoài ra, với nghiên cứu này, tác giả đã phát hiện ra nhân tố thứ 10 tại các nước đang phát triển là nhân tố “Sự ủng hộ tài chính quốc tế” (International Financial Support - IFS) 123doc 9 1.2 Các nghiên cứu về các nhân tố rào cản trong việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích tại khu vực công Luder Klaus (1992) với bài nghiên cứu “Mô hình cải cách kế toán khu vực công” đã đóng góp một kết quả hết sức quan trọng trong công cuộc phát triển kế toán công tại các quốc gia, cụ thể nghiên cứu này đã được tham khảo trong rất nhiều bài nghiên cứu sau đó trên thế giới. Nghiên cứu này đã nghiên cứu và so sánh kế toán khu vực công của các quốc gia như Mỹ, Canada, các quốc gia châu Âu như Đức, Đan Mạch, Thụy Điển, Pháp và một số vùng thuộc Vương Quốc Anh. Từ nghiên cứu này, tác giả khẳng định việc chuyển đổi cơ sở kế toán truyền thống tại các quốc gia sang cơ sở kế toán dồn tích hoàn toàn sẽ mang lại những lợi ích lớn do các BCTC khu vực công sẽ đạt được hiệu quả trong việc cung cấp thông tin hữu ích, trung thực, đáng tin cậy và so sánh được.
Bài nghiên cứu đã thiết lập mô hình gồm 04 nhóm nhân tố chính, bao gồm: Nhóm nhân tố thúc đẩy, nhóm nhân tố xã hội, nhóm nhân tố chính trị - quản lý và nhóm nhân tố rào cản. Cụ thể nhóm nhân tố rào cản bao gồm 04 nhân tố như sau: (1) Đặc điểm tổ chức - quản lý (2) Hệ thống pháp lý (3) Chất lượng, trình độ nhân viên (4) Phạm vi ảnh hưởng Trong đó: Đặc điểm tổ chức - quản lý: Việc phân cấp trách nhiệm thay đổi các quy định kế toán là một rào cản quan trọng trong việc thực hiện thống nhất các quy định kế toán. Theo tác giả, trong một chính phủ sẽ có một số đơn vị tổ chức phụ trách trách nhiệm quản lý cũng như phát triển các thủ tục kế toán, điều này mang lại nguy cơ phát triển hệ thống kế toán ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Hơn nữa, các đơn vị 123doc 10 tổ chức có thể có những ý tưởng khác nhau về những đối tượng kế toán và cách làm thế nào để thay đổi, từ đó dẫn đến các quy định về kế toán gây xung đột với nhau.
Hệ thống xây dựng pháp lý: Theo tác giả có 02 hệ thống pháp luật. Một là hệ thống pháp luật ban hành và hướng dẫn chi tiết các quy định các thủ tục cho từng trường hợp như hệ thống pháp luật của Pháp, Đức. Hai là hệ thống pháp luật chỉ đưa ra các nguyên tắc hướng dẫn chung như hệ thống pháp luật của Mỹ, Canada. Khi đó hệ thống pháp luật hướng dẫn chi tiết sẽ ít linh hoạt hơn hệ thống pháp luật chỉ đưa ra những hướng dẫn chung.
Do đó, nhân tố hệ thống pháp luật cũng sẽ ảnh hưởng đến quá trình thay đổi kế toán bởi tính linh hoạt của nó. Chất lượng, trình độ nhân viên: bài nghiên cứu của tác giả đã cho thấy rằng các nhân viên kế toán trong khu vực công của một số quốc gia được đào tạo từ khu vực tư nhân, trong khi các vị trí khác thì lại không phải là các chuyên gia hoặc người am hiểu về kỹ thuật kế toán cụ thể. Từ đó, trình độ nhân viên cũng sẽ là rào cản quan trọng trong việc bổ sung thay đổi kiến thức mới, áp dụng một số kỹ thuật kế toán mới, vận dụng hệ thông tin khi kế toán khu vực công phát triển. Phạm vi ảnh hưởng: nhân tố này có thể hiểu là phạm vi ảnh hưởng khi thay đổi hệ thống kế toán khu vực công.
Theo đó, phạm vi ảnh hưởng bao gồm quy mô dân số và số lượng các đơn vị công. Tác giả lập luận rằng khi thực hiện thay đổi hệ thống kế toán với phạm vi ảnh hưởng càng lớn thì sẽ càng tốn nhiều chi phí hơn. Do đó, thông thường các cải cách đổi mới sẽ xuất hiện ở các nước nhỏ hơn như Đan Mạch, Thụy Điển. Theo Andy Wynne (2004), trong nghiên cứu “Liệu việc chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích có phải là ưu tiên hàng đầu không?”, tác giả đã khẳng định việc chuyển đổi cơ sở kế toán trong khu vực công sang dồn tích là con đường tất yếu và mang tính quyết định trong công cuộc cách mạng kế toán khu vực công.
Đồng thời qua phân tích, tác giả 123doc 11 đã cho rằng có 03 nhân tố rào cản đến việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích thông qua khảo sát các đơn vị trong khu vực công tại nước Anh: Rào cản về mặt chuyên môn: khoảng 63% cho rằng đây là rào cản lớn mặc dù ngày càng có nhiều người đã nâng cao trình độ chuyên môn hơn, tuy nhiên vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu khi có sự thay đổi diễn ra. Rào cản về mặt nhận thức: khoảng 39% thì cho rằng rào cản chính trong việc thay đổi cơ sở kế toán từ tiền mặt sang dồn tích là vấn đề về nhận thức và hiểu biết của các nhà quản lý, những người thường phải đối mặt với những quyết định về tài chính cần thiết. Rào cản về hệ thống công nghệ thông tin: khoảng 11 % cho rằng hệ thống công nghệ thông tin hiện tại của họ chưa đủ hoặc không có khả năng để cung cấp thông tin chất lượng. Mark Christensen (2002), áp dụng mô hình nghiên cứu Luder, từ đó phân tích và xây dựng mô hình biến thể cho phù hợp tại miền Nam xứ Wales, tác giả này cũng lại một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc chuyển đổi cơ sở kế toán trong khu vực công bởi những lợi ích mà nó mang lại.
Cũng trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra 3 nhân tố gây cản trở quá trình thay đổi cơ sở kế toán, cụ thể như sau: Thiếu kỹ năng kế toán: đây thật sự là một trở ngại khi có khá nhiều kế toán viên trong khu vực công thì không giống như những gì xã hội nghĩ về kế toán viên khu vực tư nhân. Tác giả nhận định rằng nhiều người trong số họ sẽ gặp “ác mộng” khi chuyển sang kế toán dồn tích. Tình trạng chứng từ không đầy đủ: theo nghiên cứu của tác giả, nhiều đơn vị có tài sản nhưng không biết gì về chúng. Và đây thật sự sẽ là vấn đề quan trọng khi thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích.
123doc 12 Thiếu chuẩn mực kế toán công: đây thật sự là một rào cản cho sự thay đổi và phát triển kế toán công. Thực tế rằng vấn đề này không gây khó khăn một cách trực tiếp cho các bên liên quan, do đó vấn đề này dường như bị bỏ qua khi chưa được xem xét một cách nghiêm túc.