Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái luận về quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước (Trích dẫn Thư viện học liệu mở Việt Nam): Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc Ngân sách Nhà nước là vốn của Ngân sách Nhà nước được cân đối trong dự toán Ngân sách Nhà nước hàng năm từ các nguồn thu trong nước, nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan Nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà nước được hình thành từ các nguồn sau: - Một phần tích luỹ trong nước từ thuế, phí, lệ phí - Vốn viện trợ theo dự án của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên hợp quốc và các tổ chức Quốc tế khác. - Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tổ chức Quốc tế và các Chính phủ hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam.
- Vốn thu hồi nợ của ngân sách đã cho vay ưu đãi các năm trước - Vốn vay của Chính phủ dưới các hình thức trái phiếu kho bạc nhà nước phát hành theo quyết định của Chính phủ - Vốn thu từ tiền giao quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ - Vốn thu từ tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước Từ khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản nêu trên, Dự án xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước bao gồm: i) Các Dự án xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; ii) Các dự án đầu tư thuộc chương trình mục tiêu quốc gia iii) Các dự án sử dụng vốn nhà nước và vốn huy động khác và iv) Các dự án đầu tư sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ. 8 Tho Khi các dự án này hoàn thành, việc thực hiện quyết toán sẽ phải tuân theo các quy định của pháp luật về Ngân sách Nhà nước, theo đó, quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong một chu trình ngân sách nhằm tổng kết, đánh giá việc thực hiện ngân sách cũng như các chính sách ngân sách của năm ngân sách đã qua. Với hàm nghĩa đó, quyết toán NSNN trở thành một khâu quan trọng, là nhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị từ đơn vị sử dụng Ngân sách, các cấp Ngân sách đến các cơ quan quản lý ngân sách, cơ quan kiểm tra kiểm soát ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tối cao của quốc gia là Quốc hội. (Trích dẫn Tạp chí Công thương) Quyết toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo đầy đủ các nội dung: - Phản ánh được đầy đủ số liệu thu, chi ngân sách - Chủ thể có quyết toán ngân sách nhà nước phải giải trình được việc quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trong năm tài chính đó có tuân thủ luật định hay không.
- Thể hiện được tính hiệu quả nhất có thể trong việc chấp hành ngân sách nhà nước. - Quyết toán ngân sách nhà nước được xác định trong 1 năm (năm tài chính). - Quyết toán ngân sách nhà nước phải được trình báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn. Quyết toán vốn đầu tư XDCB đối với dự án xây dựng cơ bản có sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước được hiểu là việc lập, kiểm tra và quyết định báo cáo tài chính về toàn bộ tình hình quản lý và sử dụng vốn đầu tư để xây dựng dự án, công trình, hạng mục công trình kể từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, bàn giao đưa dự án, công trình hoặc hạng mục công trình đó vào sử dụng.
Đầu tư nói chung là việc sử dụng các nguồn lực (có thể là tiền vốn, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ) ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Kết quả thu được từ hoạt động đầu tư có thể là tiền vốn, là tài sản vật chất (nhà máy, đường giao thông, bệnh viện, trường học…) hay là tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật…). Đầu tư phát triển là loại hình đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn của nhà đầu tư và quy mô vốn trên phạm vi toàn xã hội. Thông qua đầu tư phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế được 9 Tho tăng cường, đổi mới, hoàn thiện, hiện đại hoá góp phần qua trọng trong việc hình thành và điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu ổn định và tăng trưởng cao bền vững của nền kinh tế.Vốn đầu tư là tiền hoặc các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư này.
Vốn đầu tư phát triển của nhà nước là phần vốn lấy từ quỹ NSNN dành cho hoạt động đầu tư phát triển; vốn đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN là vốn thuộc nguồn NSNN dành cho đầu tư phát triển để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ… Vốn đầu tư XDCB hoàn thành là toàn bộ vốn đầu tư được sử dụng để đầu tư dự án hay xây dựng công trình hoặc hạng mục công trình từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư cho đến khi kết thúc, bàn giao đưa vào sử dụng dự án, công trình hoặc hạng mục công trình đó vào sử dụng. Quyết toán vốn đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN liên quan đến nhiều cơ quan: Chủ đầu tư là người lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB các dự án hoàn thành và đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt quyết toán, trước khi được phê duyệt thì cần có một cơ quan thẩm tra báo cáo của chủ đầu tư, đây chính là nhiệm vụ của cơ quan tài chính. (Trích dẫn theo bài đăng của Ban biên tập Trang tin điện tử Sở Tài chính đăng tải bài tham luận của Lãnh đạo Sở Tài chính tại Hội thảo Tài chính - Ngân sách năm 2019, Sở Tài chính 07 tỉnh, thành phố liên kết tại Quảng Ninh.) Quyết toán vốn đầu tư XDCB là khâu cuối truớc khi đưa dự án vào khai thác sử dụng. Kết quả của quyết toán vốn đầu tư XDCB là cơ sở để Nhà nước đánh giá kết quả đầu tư, xác định giá trị tài sản mới tăng thêm do đầu tư mang lại để làm căn cứ giao vốn, quản lý vốn và tài sản của Nhà nước cho đơn vị sử dụng… Vì vậy nó có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB, giúp nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước được minh bạch, quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả hơn.
Mục tiêu của quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước - Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước 10 Tho - Đảm bảo công khai, minh bạch trong phân bổ vốn và quản lý đầu tư xây dựng Về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước có thể được xem xét trên hai phương diện: khách quan và chủ quan. Về phương diện khách quan gồm có: - Hệ thống cơ chế chính sách: Nhiệm vụ của quyết toán là xác định toàn bộ các chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư, từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng. Để xác định các chi phí hợp pháp này, cơ quan có chức năng thẩm tra quyết toán vốn đầu tư các dự án hoàn thành phải căn cứ vào hệ thống chính sách, chế độ liên quan đến đầu tư xây dựng dự án và quyết toán như: hệ thống định mức, đơn giá, tiêu chuẩn quy phạm trong XDCB và các chính sách quản lý tài chính về đầu tư và xây dựng… Hệ thống chính sách đầy đủ, đồng bộ là nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản; ngược lại nếu hệ thống chính sách không đầy đủ, không đồng bộ sẽ tạo ra những khe hở gây thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB nói chung và trong quyết toán nói riêng. - Trình độ của các cơ quan, tổ chức liên quan đến quyết toán đầu tư và xây dựng (cơ quan thẩm tra phê duyệt dự án đầu tư, thiết kế dự toán, cơ quan cấp trên của chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn, đơn vị thi công…): Quyết toán vốn đầu tư XDCB là bước cuối trong trình tự đầu tư XDCB, do đó chất lượng của quyết toán này chịu ảnh hưởng nhiều của chất lượng các bước khác trước đó.
Chẳng hạn, nếu chất lượng công tác lập và thẩm định dự toán xây dựng công trình tốt; chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn đấu thầu, tư vấn giám sát và các nhà thầu thực hiện theo đúng quy định sẽ là những cơ sở thuận lợi cho công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB xác định chính xác giá trị của dự án. Ngược lại nếu một hoặc một vài đơn vị liên quan không thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ gây rất nhiều khó khăn cho quyết toán, có thể làm cho giá trị quyết toán không phản ánh đúng các chi phí thực tế. Đây là những hạn chế rất khó loại bỏ vì nó liên quan đến nhiều tổ chức, đơn vị liên quan.