CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT TẠI KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT TẠI VIỆT NAM 1. Đất tại khu công nghiệp, khu chế xuất 1. Khái niệm “ Đất tại KCN, KCX là một khái niệm pháp lý quan trọng trong hoạt động sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai. Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT giải thích cách xác định loại đất, loại đối tượng sử dụng đất, loại đối tượng quản lý đất đã làm rõ nội hàm của khái niệm pháp lý này .” Theo đó, đất tại KCN, KCX thuộc nhóm đất có mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, được định nghĩa là loại đất “làm mặt bằng để xây dựng các công trình sản xuất hàng công nghiệp, công trình dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, kể cả các công trình hạ tầng thuộc phạm vi khu công nghiệp được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, điển hình là các công trình kỹ thuật có tính cá biệt như nhà xưởng, kho bãi, trụ sở, văn phòng đại diện,.
hoặc các kết cấu phức tạp, trình độ kỹ thuật cao và mang tính phục vụ chung như đường sá, cầu cống, hệ thống thoát nước,. nằm trong KCN. Đặc điểm “ Thuộc nhóm đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp nhưng không hoàn toàn đồng nhất với các loại đất khác thuộc cùng nhóm đất, đất KCN, KCX sẽ mang một số đặc điểm pháp lý nổi bật riêng biệt. ” “ Thứ nhất, đất KCN, KCX được xác định ranh giới rõ ràng, nằm trong phạm vi KCN, KCX và phù hợp với quy hoạch, tiêu chuẩn luật định.
” Khoản 1 Điều 2 Nghị định 35/2022/NĐ-CP đưa ra định nghĩa về KCN. Theo đó, KCN là khu vực riêng biệt, độc lập, được quy hoạch chi tiết để phân cách với các khu vực khác và chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống quy định riêng biệt. Đất tại 9 KCN là diện tích đất nằm hoàn toàn trong phạm vi KCN nên được quy hoạch rõ ràng cũng như tuân thủ các yêu cầu pháp lý đặt ra cho khu vực đặc biệt này. Do đó, mỗi một công trình có hoạt động sản xuất như nhà máy, kho bãi,… hay không có hoạt động sản xuất như trụ sở, văn phòng,… và thậm chí các cơ sở hạ tầng kỹ thuật có tính chất công cộng như đường sá, hệ thống thoát nước,… đều được xây dựng theo những tiêu chuẩn quy định riêng của KCN.
“ Thứ hai, đất KCN, KCX phải được sử dụng đúng mục đích luật định. ” “ Đất KCN, KCX phải được sử dụng đúng mục đích luật định là phục vụ cho việc sản xuất, kinh doanh công nghiệp. Theo Quyết định số 486-TCTK/CN ban hành ” ngày 02/06/1966 của Tổng cục Thống kê thì “công nghiệp” được định nghĩa là ngành sản xuất vật chất bao gồm khai thác của cải vật chất trong thiên nhiên mà con người chưa tác động vào, chế biến những KCN, KCX được xác định ranh giới địa lý rõ ràng, tuân thủ hệ thống quy tắc điều chỉnh được ban hành riêng nhằm đảm bảo các hoạt động trong khu vực chuyên môn này được diễn ra phù hợp chủ trương và kế hoạch đề ra ban đầu. Do đó, việc sử dụng đất tại KCN, KCX phải đúng với nội dung “ của quy hoạch theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 27 của Luật Quy hoạch.
sản phẩm đã khai thác hoặc của ngành nông nghiệp, sửa chữa máy móc thiết bị và vật phẩm tiêu dùng. Từ định nghĩa đó, tồn tại quan điểm sai lầm cho rằng chỉ các CTKD có hoạt động sản xuất công nghiệp theo cách hiểu trên mới có thể là NSDĐ tại KCN, KCX. Thực chất, tính chất “công nghiệp” trong quy định hiện hành “ được mở rộng không chỉ bao gồm hoạt động sản xuất công nghiệp mà còn đề cập đến các hoạt động cung ứng dịch vụ cho công nghiệp như là logistic, thương mại,… Vì thế, các CTKD thương mại vẫn có thể xây dựng trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện,… tại KCN, KCX. ” Tuy nhiên, phạm vi mở rộng của “công nghiệp” có sự giới hạn trong các hoạt động thương mại, dịch vụ có yếu tố công nghiệp hoặc hỗ trợ cho ngành công nghiệp sản xuất.
Các ngành dịch vụ, thương mại khác không có các yếu tố liên quan thì không được xếp vào nhóm “công nghiệp” và việc thực hiện các hoạt động thuộc các 10 lĩnh vực không thuộc nhóm “công nghiệp” thì được xem sử dụng không đúng mục đích. Vì thế, các CTKD không được sử dụng đất KCN, KCX làm mặt bằng xây dựng “ các công trình kỹ thuật thực hiện các lĩnh vực kinh doanh ngoài giới hạn. ” “ NSDĐ tại KCN, KCX chỉ được dùng bề mặt đất hoặc phần lòng đất để làm mặt bằng nhằm xây dựng KCHT phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính chất công nghiệp của nhà đầu tư hoặc chính NSDĐ. Do đó, một số hoạt động sử dụng các thuộc tính khác của đất không được thực hiện với đất tại KCN nhưng được thực hiện với các loại đất khác cùng nhóm đất, điển hình là các hành vi thăm dò, khai thác tài nguyên đất và các tài nguyên trong đất như khoáng sản, vật liệu xây dựng,.
Do đó, dù phát hiện các lợi ích khác từ đất trong lúc đang có quyền sử dụng ” thì NSDĐ tại KCN cũng không được tiến hành khai phá, tác động lên đất nhằm mục đích ngoài luật định. Quyền sử dụng đất tại khu công nghiệp, khu chế xuất 1. Khái niệm quyền sử dụng đất “ Hiện nay, hệ thống pháp luật thế giới tồn tại nhiều mô hình sở hữu đất đai khác nhau. Dựa trên các đặc điểm chính trị - xã hội của quốc gia, Việt Nam lựa chọn áp dụng mô hình công hữu với chế độ sở hữu toàn dân cho toàn bộ đất đai thuộc lãnh thổ, có nghĩa là mỗi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai.
” “ Tuy nhiên, khái niệm “toàn dân” mang hàm nghĩa rộng dẫn đến không thể xác định một cách rõ ràng chủ thể nào được thực hiện quyền sở hữu. Nhằm khắc phục hiện tượng trên, một phần quyền sở hữu sẽ được thực hiện thông qua các chủ thể khác mang đầy đủ năng lực pháp luật lẫn năng lực hành vi và có khả năng đưa đất đai vào khai thác, sử dụng trực tiếp để tạo ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu xã hội. Nhà nước với tư cách là đại diện cho sở hữu toàn dân thực hiện lựa chọn và trao quyền cho các chủ thể phù hợp với điều kiện và tiêu chuẩn được luật hóa rõ ràng, cụ thể. Phần quyền năng được trao – giúp đảm bảo quyền lợi chính đáng của các chủ thể cũng như các hoạt động khai thác, sử dụng đất đai được diễn ra thuận lợi – được gọi là QSDĐ.
” 11 “ Khái niệm của QSDĐ chưa được ghi nhận một cách chính thức trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay nên tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau cho thuật ngữ pháp lý này. ” Từ điển Luật học năm 2006 đưa ra định nghĩa về QSDĐ trên phương diện nghiên cứu khoa học pháp lý: “Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho …”. Theo quan điểm khác, QSDĐ được xem là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Đại học Luật Hà Nội, 2011). Dưới góc nhìn cá nhân, Hoàng Thị Loan và Nguyễn Ngọc Tuyến (2022) cho rằng QSDĐ còn được hiểu là một loại tài sản mang bản chất vật quyền được phát sinh dựa trên cơ sở quyền sở hữu đất đai do Nhà nước trao cho những chủ thể nhất định và cho phép các chủ thể đó có QVNV về tài sản theo quy định của LĐĐ.
” “ Từ những phân tích trên, QSDĐ tại KCN, KCX có thể được định nghĩa là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất KCN nhằm phục vụ vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thông qua việc sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng các công trình sản xuất hàng công nghiệp, các công trình phục vụ cho sản xuất hàng công nghiệp và công trình hạ tầng. Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất tại khu công nghiệp, khu chế xuất QSDĐ được trao cho các chủ thể dựa trên QĐPL thông qua các con đường khác nhau. Các cách thức trao QSDĐ chính là các căn cứ pháp lý được sử dụng để xác lập QSDĐ của các chủ thể. Theo quy định của LĐĐ hiện hành, có bốn căn cứ xác lập QSDĐ chủ yếu, bao gồm: Thứ nhất, Nhà nước giao đất, cho thuê đất 12 “ Bản chất của hành vi giao đất, cho thuê đất là một hoạt động điều phối đất đai khi Nhà nước với tư cách là đại diện toàn dân thực hiện trao QSDĐ cho các đối tượng cụ thể theo các hình thức sử dụng đất khác nhau.
Giao đất được thực hiện thông qua quyết định hành chính để trao QSDĐ cho người có nhu cầu và khả năng theo luật định. Cho thuê đất là hình thức Nhà nước chuyển giao QSDĐ thông qua hợp đồng cho thuê đất giữa Nhà nước và chủ thể thuê đất. ” “ Giao đất, cho thuê đất là hoạt động đặc trưng của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai khi vừa thể hiện quyền sở hữu của chủ thể vừa thể hiện tính chất quản lý nhà nước về đất đai, là căn cứ xác lập quyền phổ biến nhất hiện nay đối với đất KCN, KCX .” “ “ Như vậy, Nhà nước giao đất, cho thuê đất là một căn cứ để xác lập QSDĐ cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng đất trong KCN, KCX (Điều 11 Luật Kinh doanh Bất động sản, năm 2014). “ Thứ hai, chủ thể nhận chuyển QSDĐ thông qua GDDS như chuyển nhượng,… ” “ Chủ thể nhận chuyển QSDĐ thông qua các GDDS là căn cứ duy nhất mang đậm tính dân sự và ít yếu tố hành chính nhà nước chi phối.
Việc xác lập QSDĐ thông qua quan hệ thị trường diễn ra phổ biến trên thực tế và chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác nhau như LĐĐ, Bộ Luật dân sự, Luật hành chính,… ” Giao dịch QSDĐ là hành vi pháp lý giữa NSDĐ và các chủ thể có liên quan trong việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ pháp lý đối với QSDĐ.