CHƯƠNG 1 QUYỀN CỦA BÊN MUA BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN 1.1 Những yếu tố chi phối đến quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 1.1 Bản chất các quyền và nghĩa vụ pháp sinh theo quy định của pháp luật trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có mối quan hệ song vụ với nhau thông qua hợp đồng bảo hiểm tài sản. Theo cách hiểu thông thường, quyền là khả năng thực hiện ý chí của mình được pháp luật hoặc xã hội chấp nhận. Nghĩa 7 vụ là những gì một người phải làm hoặc không làm với người khác1. Cơ sở hình thành nên quyền và nghĩa vụ của các chủ thể phụ thuộc vào từng loại giao dịch mà các chủ thể tham gia.
Khi tham gia vào quan hệ pháp luật kinh doanh bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm được liệt kê cụ thể tại các Điều 17, và Điều 18 của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi bổ sung 2010. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ tại các Điều 17, và Điều 18 của Luật kinh doanh bảo hiểm quy định áp dụng chung cho các loại hình kinh doanh bảo hiểm, không phân biệt loại hình bảo hiểm phi nhân thọ hay bảo hiểm nhân thọ. Vì thế, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, dựa trên quy định tại Điều 17 và Điều 18 của luật kinh doanh bảo hiểm, tác giả tập trung nghiên cứu quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ không liệt kê lại những quy định trong điều luật, mà áp dụng phương pháp phân tích từng vấn đề cơ bản về quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm trong Quy tắc, điều khoản của hợp đồng bảo hiểm tài sản.
Qua đó cho thấy mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau về quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản.2 Nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm trong Quy tắc bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm 1.1 Sự cần thiết phải có quy tắc bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Khi tham gia quan hệ bảo hiểm, cùng với việc áp dụng các quy phạm pháp luật chuyên ngành kinh doanh bảo hiểm. Các doanh nghiệp bảo hiểm thường xây dựng và ban hành ra những “Quy tắc bảo hiểm” để làm cơ sở cho việc hoạt động bảo hiểm của mình. Sự cần thiết phải có Quy tắc bảo hiểm xuất phát từ các lý do: Thứ nhất, xuất phát từ vai trò đặc thù của bảo hiểm tài sản đối với nền kinh tế. Bảo hiểm tài sản đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định hoạt động và điều tiết nền kinh tế.
Nó không chỉ giúp cá nhân yên tâm trong cuộc sống, công việc mà còn là sự hậu thuẫn không nhỏ để các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác, yên tâm ổn định 1Nguyễn Thị Thủy (2010), Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM, tr 86 8 sản xuất, đồng thời huy động được nguồn vốn từ các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp, không để những nguồn vốn ấy phải nằm yên một chỗ chờ đợi để khắc phục cho những rủi ro. Quan hệ bảo hiểm, vì thế không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm. Do đó, hợp đồng bảo hiểm tài sản không thể bình thường như những hợp đồng khác trong nền kinh tế. Hợp đồng bảo hiểm tài sản phải chặt chẽ, phải “chuẩn”, bởi nếu vì việc giao kết một hợp đồng không chặt chẽ, không chuẩn sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm thì cũng gián tiếp gây thiệt hại khác cho nền kinh tế.
Do đó, hợp đồng bảo hiểm luôn là hợp đồng mẫu. Quy tắc bảo hiểm đương nhiên không phải là hợp đồng bảo hiểm. Song quy tắc bảo hiểm lại là “xương sống” của mọi hợp đồng bảo hiểm. Mọi doanh nghiệp bảo hiểm không thể thiếu quy tắc bảo hiểm để làm cơ sở cho hợp đồng bảo hiểm của họ với khách hàng.
Thứ hai, khi bên mua bảo hiểm đi mua bảo hiểm, một cuộc trao đổi được thực hiện. Ở đó, doanh nghiệp bảo hiểm trao cam kết và nhận về phí bảo hiểm và bên mua bảo hiểm ở chiều ngược lại. Luôn luôn có một sự chênh lệch cực kỳ lớn giữa khoản phí bảo hiểm và giá trị tài sản được bảo hiểm. Có sự chênh lệch đó là vì người ta tin tưởng vào khả năng tổn thất sẽ không xảy ra ở tương lai.
Tuy nhiên, đã là tương lai thì không thể “tính toán” và sự kiện bảo hiểm là một điều chỉ được dự đoán ở hiện tại. Do đó, hợp đồng bảo hiểm phải là một hợp đồng hết sức chặt chẽ để bảo đảm sẽ không có sự sai sót nào trong việc đánh giá rủi ro và không tạo cơ hội cho bên mua bảo hiểm trục lợi. Hầu hết các quyền và nghĩa vụ của hai bên được thể hiện trong từng vấn đề dựa trên Quy tắc bảo hiểm và quy định của pháp luật kinh doanh bảo hiểm. Thứ ba, sản phẩm của doanh nghiệp bảo hiểm là sản phẩm vô hình, lại phụ thuộc vào nhu cầu của bên mua bảo hiểm cho nhiều loại tài sản khác nhau.
Doanh nghiệp bảo hiểm không thể soạn mỗi hợp đồng cho mỗi một khách hàng và cũng không thể là một hợp đồng cho tất cả các khách hàng. Do đó, bằng các Quy tắc và điều khoản bảo hiểm do chính doanh nghiệp bảo hiểm ban hành quy định cho từng loại nghiệp vụ bảo hiểm được phân nhóm, phân dòng cho sản phẩm của mình. Mỗi nhóm sản phẩm có những điều kiện, điều khoản riêng áp dụng cho những đối tượng khác nhau. Thông thường, nội dung của chúng chủ yếu giải thích các thuật ngữ bảo hiểm, đưa ra các điểm loại trừ và các quy định trách 9 nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm để người được bảo hiểm đọc nhằm hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng.
Vì đối với mỗi một hợp đồng bảo hiểm mẫu (hợp đồng mẫu do doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo), nó thể hiện là một sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Do đó, trong hợp đồng, họ đưa ra những phạm vi bảo hiểm chung cho một số loại tài sản tương ứng với sản phẩm bảo hiểm đó. Bộ quy tắc bảo hiểm là một phần không thể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm. Các bên khi giao kết hợp đồng bảo hiểm ngoài việc phải tuân thủ các nội dung trong hợp đồng bảo hiểm còn phải tuân thủ các quy định trong bộ quy tắc bảo hiểm.
Đối với một số loại sản phẩm bảo hiểm, thì bộ quy tắc bảo hiểm do nhà nước xây dựng, chẳng hạn trong lĩnh vực xây dựng, giao thông. Tuy nhiên, cũng có những bộ quy tắc do doanh nghiệp bảo hiểm xây dựng để mở rộng phạm vi bảo hiểm hoặc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm không được quy định trong hợp đồng bảo hiểm cho nghiệp vụ bảo hiểm đó. Phải thừa nhận rằng, sự tồn tại của bộ quy tắc bảo hiểm là rất cần thiết trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Đây là hoạt động kinh doanh rất đặc thù, cần thiết phải có sự giải thích các thuật ngữ, điều kiện bảo hiểm để bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định trong hợp đồng bảo hiểm tài sản.
Lý do của nhà nước khi trao quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm được phép soạn thảo hợp đồng mẫu là vì, trong quan hệ bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm biết rõ những yếu tố liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên, biết rõ những đặc trưng cơ bản của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Mặt khác, sự kiện bảo hiểm có ý nghĩa rất quan trọng vì nó là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm - để tránh xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia vào quan hệ bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, thì sự kiện bảo hiểm nói riêng và sự kiện bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản cần phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng. Vì vậy, điều khoản về sự kiện bảo hiểm là điều khoản bắt buộc trong hợp đồng bảo hiểm tài sản (được thể hiện ở điều khoản phạm vi bảo hiểm). Vấn đề này được quy định tại khoản 1, Điều 13 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung 2010, theo đó, trong hợp đồng bảo hiểm2 phải có nội dung về phạm vi bảo hiểm, điều 2Theo quy định tại Điều 13 Luật kinh doanh bảo hiểm, ngoài những điều khoản cơ bản buộc phải có trong hợp đồng (các điều khoản chủ yếu), các bên được quyền thỏa thuận thêm các điều khoản khác.
Trên thực tế, nội dung của các điều khoản chủ yếu do doanh nghiệp bảo hiểm quy định căn cứ vào Bộ quy tắc và điều khoản bảo hiểm do 10 kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm. Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, điều khoản phạm vi bảo hiểm thường liệt kê ra các rủi ro mà doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm cho nghiệp vụ bảo hiểm tài sản đó. Như vậy, đây là một trong những điều khoản chính trong hợp đồng bảo hiểm.2 Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phát sinh trên cơ sở Quy tắc, điều khoản hợp đồng bảo hiểm tài sản mẫu Quy tắc, điều khoản hợp đồng bảo hiểm tài sản mẫu được ban hành nhằm để cụ thể hóa, thống nhất cách hiểu của những thuật ngữ trong hợp đồng bảo hiểm tài sản. Đồng thời làm khuôn mẫu cho các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ dựa vào để xây dựng quy tắc và điều khoản cho từng sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp mình.
Những quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể này được quy định thành từng vấn đề, mỗi vấn đề đều có tên tiêu đề và lập thành từng mục, điều khoản và được định nghĩa, diễn giải một cách chi tiết dựa trên quy định của pháp luật. Qua đó, giúp cho người đọc, người áp dụng sẽ dễ hiểu hơn, vận dụng đúng quyền hạn của mình và nhận thức rõ được hậu quả khi không thực hiện nghĩa vụ của mình. Vì các lý do trên đây, tác giả không lập lại những quyền và nghĩa vụ đã được quy định giống như trong Luật kinh doanh bảo hiểm, mà chỉ phân tích những quyền và nghĩa vụ nào trong quy tắc, điều khoản hợp đồng bảo hiểm tài sản mẫu bổ sung mới hoặc quy định cụ thể chi tiết hơn so với quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm.