Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quan hệ dân sự tại Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng, đa dạng về tính chất và phức tạp về mặt lợi ích. Sự gia tăng này kéo theo nhiều mâu thuẫn, tranh chấp giữa các chủ thể. Hoạt động tư pháp được xác định giữ trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng). Bản chất của quan hệ dân sự là sự tự do, tự nguyện thỏa thuận, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm. Do đó, khi giải quyết các vụ việc dân sự, pháp luật tố tụng dân sự luôn đặt việc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự lên hàng đầu.
Quyền tự định đoạt là một trong những quyền cơ bản của con người trong tố tụng dân sự, là phương tiện pháp lý trực tiếp để đương sự tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời giúp nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cho thấy việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự tại Tòa án cấp sơ thẩm vẫn còn bộc lộ những hạn chế, vướng mắc nhất định, dẫn đến tình trạng giải quyết vụ án bị kéo dài. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Phương Anh tại Trường Đại học Luật Hà Nội được thực hiện nhằm làm rõ các vấn đề lý luận, pháp lý thực định và thực tiễn thi hành quyền tự định đoạt của đương sự tại cấp xét xử sơ thẩm.
Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về quyền tự định đoạt của đương sự tại Tòa án cấp sơ thẩm; từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở và các yếu tố bảo đảm).
- Nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nội dung quyền tự định đoạt của đương sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
- Phân tích thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền tự định đoạt của đương sự tại Tòa án cấp sơ thẩm, chỉ rõ những kết quả đạt được cùng những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng dân sự và bảo đảm thực thi trên thực tế nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quyền tự định đoạt của đương sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Về lý luận: Tập trung vào khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở và các yếu tố bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
- Về pháp luật thực định: Giới hạn trong các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan.
- Về không gian và thời gian: Nghiên cứu việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm trong phạm vi thực tế 5 năm gần đây.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận của nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Văn kiện Đại hội XIII). Về mặt pháp lý thực định, đề tài vận dụng các quy định của Hiến pháp năm 2013 (về quyền con người, quyền tự do cá nhân), Bộ luật Dân sự năm 2015 (quy định về đại diện, năng lực chủ thể), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (trọng tâm là nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt tại Điều 5, các điều khoản về quyền, nghĩa vụ của đương sự, trình tự thủ tục sơ thẩm), cùng các văn bản hướng dẫn áp dụng gồm: Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP (về biểu mẫu tố tụng dân sự), Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP (về biểu mẫu giải quyết việc dân sự), Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 (về án phí, lệ phí Tòa án).
Đồng thời, đề tài kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học tiêu biểu đi trước, gồm đề tài cấp cơ sở của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS. Nguyễn Triều Dương chủ nhiệm (2015), luận văn của tác giả Nguyễn Quang Huy (2022), Nguyễn Thanh Hải (2016), Phạm Thị Minh (2017), Nguyễn Thị Tuyết (2019), Giáo trình Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, cùng các bài viết, bình luận khoa học của các chuyên gia pháp lý (Trần Đức Thạnh, Nguyễn Thị Thu Dung, Hoàng Thị Quỳnh Chi, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thị Kiều Trang).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu pháp lý cụ thể:
- Phương pháp phân tích: Giải mã các khái niệm khoa học pháp lý, nội dung từng điều luật và hành vi tố tụng của đương sự.
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở pháp lý và các nhóm quyền định đoạt qua từng giai đoạn tố tụng.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu phạm vi quyền định đoạt giữa cấp sơ thẩm với các giai đoạn tố tụng khác (phúc thẩm, thi hành án); so sánh quyền của đương sự độc lập và đương sự phụ thuộc.
- Phương pháp thống kê: Tổng hợp thông tin, tư liệu thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng trong giai đoạn 5 năm gần đây.
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống giáo trình, tài liệu chuyên khảo, bài báo khoa học pháp lý và thực tiễn xét xử sơ thẩm được công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự tại toà án cấp sơ thẩm
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho đề tài, làm rõ các khái niệm thành tố cấu thành:
- Đương sự trong tố tụng dân sự: Theo Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Tòa án cấp sơ thẩm: Cấp tòa án tiến hành xét xử đầu tiên vụ án dân sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân (trường hợp đặc biệt, phức tạp gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân). Bản án sơ thẩm có thể bị kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Khái niệm quyền tự định đoạt của đương sự tại Tòa án cấp sơ thẩm: Được định nghĩa là nhóm quyền tố tụng mang tính đặc trưng, thể hiện xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án; theo đó đương sự được tự quyết định việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp thông qua thủ tục tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm và thông qua việc thỏa thuận với đương sự khác. Theo nghĩa rộng, quyền này bao gồm quyền khởi kiện, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, thỏa thuận, cung cấp chứng cứ, yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kháng cáo; theo nghĩa hẹp, quyền tự định đoạt gồm quyền yêu cầu khởi kiện, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và hòa giải, thỏa thuận.
Tác giả luận giải 7 đặc điểm cơ bản của quyền tự định đoạt tại Tòa án cấp sơ thẩm:
- Là quyền về mặt hình thức và được quyết định bởi các quyền nội dung trong quan hệ pháp luật dân sự.
- Thể hiện qua một chuỗi các quyền năng tố tụng cụ thể, xuyên suốt quá trình tố tụng.
- Đặt ra bình đẳng đối với tất cả các bên đương sự.
- Là sự kết hợp giữa ý chí chủ quan của đương sự và quy định khách quan của pháp luật.
- Thường được thực hiện xuất phát từ ý chí tự nguyện của đương sự; hành vi bị đe dọa, cưỡng ép sẽ không được pháp luật chấp nhận.
- Quy định nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của cơ quan và người tiến hành tố tụng.
- Có phạm vi sử dụng rộng nhất so với các giai đoạn tố tụng khác (ở giai đoạn phúc thẩm hay thi hành án, quyền này bị giới hạn đáng kể).
Về ý nghĩa, quyền tự định đoạt đóng vai trò: bảo đảm cơ chế pháp lý để đương sự tự bảo vệ quyền lợi; phân định rõ trách nhiệm của Tòa án (chỉ thụ lý, giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện); thúc đẩy tính chủ động của các bên, giảm bớt chi phí và thời gian tố tụng; nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án; và bảo đảm tính công khai, minh bạch của nền tư pháp.
Cơ sở quy định quyền tự định đoạt gồm ba nền tảng: địa vị bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự; quyền tự do ý chí được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013; và đòi hỏi khách quan từ thực tiễn giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra bốn yếu tố bảo đảm thực hiện quyền gồm: pháp luật thực định; hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (trọng tâm là Tòa án); sự tham gia của các tổ chức bổ trợ tư pháp và tổ chức xã hội; nhận thức, ý thức pháp luật của chính đương sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự tại toà án cấp sơ thẩm
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh quyền tự định đoạt qua các khâu của thủ tục sơ thẩm:
Quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập:
- Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định quyền khởi kiện của chủ thể để tự bảo vệ mình; Điều 187 quy định quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức để bảo vệ người khác, lợi ích công cộng và Nhà nước (như cơ quan quản lý gia đình, trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ, tổ chức đại diện người lao động).
- Điều kiện thực hiện quyền: Chủ thể phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự (Điều 69); nộp đơn đúng hình thức (Mẫu số 23-DS đối với đơn khởi kiện theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP, Mẫu số 01-VDS theo Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP); nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm trong hạn 07 ngày (Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14) hoặc tạm ứng lệ phí trong hạn 05 ngày làm việc (Điều 363); gửi kèm tài liệu, chứng cứ ban đầu (Khoản 5 Điều 189).
- Khởi kiện qua người đại diện: Khóa luận phân tích căn cứ Điều 134, Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để khẳng định người đại diện theo ủy quyền có quyền viết đơn, ký đơn khởi kiện và tham gia tố tụng trong phạm vi nội dung được ủy quyền.
- Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Căn cứ khoản 1 Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu độc lập được chấp nhận khi việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ, yêu cầu độc lập liên quan đến vụ án và việc giải quyết trong cùng vụ án làm cho quá trình xét xử nhanh chóng, chính xác hơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tạm ứng án phí trong hạn 07 ngày và nộp chứng cứ kèm theo. Khóa luận phân biệt rõ tư cách tham gia độc lập (toàn quyền định đoạt) và tư cách phụ thuộc vào một bên đương sự (không được tự ý thỏa thuận trái với ý chí của bên mình phụ thuộc).
Quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu:
- Thay đổi, bổ sung yêu cầu: Trước phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đây là quyền tuyệt đối của đương sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, quyền này mang tính tương đối; theo khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.
- Rút yêu cầu: Trước khi thụ lý, Tòa án trả lại đơn theo điểm g khoản 1 Điều 192. Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết theo điểm c khoản 1 Điều 217; trường hợp có nhiều đương sự, Điều 217 quy định cơ chế chuyển đổi địa vị tố tụng (bị đơn trở thành nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn khi các yêu cầu phản tố, độc lập vẫn được duy trì). Tại phiên tòa, quyền rút yêu cầu do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định đình chỉ phần hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút (khoản 2 Điều 244).
Quyền hòa giải và tự thỏa thuận:
- Hòa giải do Tòa án tiến hành: Là thủ tục bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (Điều 205), trừ các vụ án quy định tại Điều 206 (yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại tài sản Nhà nước; vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội). Khi hòa giải thành, Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Trong thời hạn 07 ngày, nếu không đương sự nào thay đổi ý kiến thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận (Điều 212).
- Tự thỏa thuận: Các bên có quyền tự thương lượng, giải quyết ở mọi giai đoạn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Chủ tọa hỏi các đương sự về việc thỏa thuận; nếu đạt được thỏa thuận tự nguyện, hợp pháp, Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận có hiệu lực pháp luật (Điều 246).
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự tại toà án cấp sơ thẩm
Chương 3 trình bày các nội dung thực tiễn áp dụng và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả:
- Đánh giá thực tiễn: Tổng kết những thành tựu đạt được từ khi thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong việc tôn trọng quyền con người, mở rộng phạm vi chủ động của đương sự tại cấp sơ thẩm.
- Hạn chế, vướng mắc: Chỉ ra bất cập thực tiễn trong việc áp dụng điều kiện "không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu" tại Điều 244 do luật thiếu tiêu chí định lượng và giải thích cụ thể; khoảng trống pháp lý đối với trường hợp đương sự tự thỏa thuận sau khi Hội đồng xét xử đã vào phòng nghị án (buộc Tòa án vẫn phải tuyên án); vướng mắc về thời hạn nộp biên lai tạm ứng án phí, lệ phí và tính thống nhất trong quyền ký đơn của người đại diện theo ủy quyền.
- Nguyên nhân: Xuất phát từ sự thiếu đồng bộ, cụ thể của các văn bản hướng dẫn; nhận thức, kinh nghiệm áp dụng pháp luật của một bộ phận Thẩm phán; và trình độ hiểu biết pháp lý hạn chế của đa số đương sự.
- Kiến nghị hoàn thiện: Đề xuất cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết khái niệm "vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu"; bổ sung cơ chế cho phép Tòa án lập biên bản và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận khi các bên đạt được thỏa thuận trong giai đoạn nghị án; hoàn thiện quy trình nộp chứng cứ và rút gọn thủ tục chuyển đổi tư cách tố tụng. Về mặt tổ chức thi hành, cần nâng cao năng lực cho đội ngũ Thẩm phán, đẩy mạnh trợ giúp pháp lý và tuyên truyền pháp luật tố tụng cho người dân.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận làm rõ và hệ thống hóa toàn diện các quy phạm pháp luật điều chỉnh quyền tự định đoạt của đương sự tại cấp sơ thẩm theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Dưới đây là bảng tổng hợp cơ chế thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự qua các giai đoạn tố tụng sơ thẩm:
| Giai đoạn tố tụng |
Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu |
Quyền rút yêu cầu và hệ quả |
Cơ chế hòa giải, thỏa thuận |
| Khởi kiện và thụ lý vụ việc |
Được quyền sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện/yêu cầu theo hướng dẫn của Tòa án. |
Rút đơn trước khi thụ lý: Thẩm phán trả lại đơn (Điểm g Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015). |
Đương sự tự thương lượng, thỏa thuận ngoài tố tụng. |
| Chuẩn bị xét xử sơ thẩm |
Quyền tuyệt đối: Được tự do thay đổi, bổ sung yêu cầu trước phiên họp kiểm tra giao nộp chứng cứ và hòa giải. |
Đình chỉ giải quyết phần hoặc toàn bộ vụ án (Điều 217). Áp dụng cơ chế chuyển đổi địa vị tố tụng nếu bị đơn/người liên quan giữ yêu cầu phản tố/độc lập. |
Tòa án bắt buộc hòa giải (trừ trường hợp Điều 206). Thời hạn 07 ngày suy nghĩ trước khi ra quyết định công nhận thỏa thuận (Điều 212). |
| Tại phiên tòa sơ thẩm |
Quyền tương đối: HĐXX chỉ chấp nhận nếu không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu (Khoản 1 Điều 244). |
Rút một phần hoặc toàn bộ: HĐXX đình chỉ phần hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút (Khoản 2 Điều 244). |
Chủ tọa phiên tòa hỏi về việc thỏa thuận; HĐXX ra quyết định công nhận thỏa thuận nếu hợp pháp (Điều 246). |
Về mặt đóng góp khoa học, tác giả đã:
- Phân tích ranh giới pháp lý giữa quyền năng độc lập và quyền năng phụ thuộc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc tự định đoạt quan hệ tranh chấp.
- Luận giải cơ sở pháp lý cho phép người đại diện theo ủy quyền được ký đơn khởi kiện trên cơ sở kết hợp Điều 134, Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Phát hiện và phân tích điểm nghẽn pháp lý tại Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 khi đương sự đạt được thỏa thuận sau thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án, từ đó kiến nghị giải pháp lập pháp cụ thể.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được xác định rõ:
- Đề tài tập trung chuyên sâu vào Tòa án cấp sơ thẩm trong thời gian 5 năm thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chưa nghiên cứu mở rộng sang cấp phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hay giai đoạn thi hành án dân sự.
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu dựa trên các quy định pháp luật thực định của Việt Nam, chưa thực hiện so sánh đối chiếu sâu với pháp luật tố tụng dân sự của các quốc gia khác trên thế giới.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra từ đề tài bao gồm:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu quyền tự định đoạt của đương sự sang các giai đoạn tố tụng sau sơ thẩm và thi hành án dân sự.
- Nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự hiện đại.
- Đánh giá tác động của việc ứng dụng Tòa án điện tử, nộp chứng cứ trực tuyến và hòa giải trực tuyến đối với việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong bối cảnh chuyển đổi số tư pháp.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với:
- Sinh viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự tại các cơ sở đào tạo luật trên toàn quốc; làm tài liệu học tập, nghiên cứu môn Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam.
- Học viên, nhà nghiên cứu thực hiện các luận văn, đề tài khoa học liên quan đến nguyên tắc tố tụng dân sự, quyền đương sự và cải cách thủ tục tư pháp sơ thẩm.
- Người tập sự hành nghề luật sư, luật sư và những người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Thư ký Tòa án) tham khảo trong việc xác định thẩm quyền, điều kiện thụ lý đơn, xem xét tính hợp pháp của việc thay đổi/bổ sung yêu cầu và thủ tục chuyển đổi tư cách đương sự theo Điều 217, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Người đại diện theo ủy quyền có được quyền viết và ký tên vào đơn khởi kiện thay cho nguyên đơn hay không?
Có. Căn cứ khoản 1 Điều 134, điểm c khoản 1 Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 186, Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người đại diện theo ủy quyền có quyền nhân danh và vì lợi ích của người ủy quyền xác lập, thực hiện hành vi tố tụng trong phạm vi đại diện. Pháp luật tố tụng không cấm người đại diện theo ủy quyền ký đơn khởi kiện nếu nội dung ủy quyền bao gồm toàn bộ việc soạn thảo, ký nộp đơn và tham gia tố tụng.
2. Những vụ án dân sự nào không được Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015?
Căn cứ Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không được tiến hành hòa giải đối với hai loại vụ án:
- Vụ án yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
- Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái với đạo đức xã hội.
3. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì Tòa án xử lý như thế nào?
Theo quy định tại điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Thẩm phán sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời thực hiện chuyển đổi địa vị tố tụng: bị đơn trở thành nguyên đơn, còn nguyên đơn trở thành bị đơn đối với yêu cầu phản tố chưa rút.
4. Điều kiện để Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm là gì?
Căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa nếu việc thay đổi, bổ sung đó không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.
5. Sau khi Tòa án lập biên bản hòa giải thành, đương sự có bao nhiêu ngày để suy nghĩ và thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận?
Căn cứ khoản 1 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thời hạn này là 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành. Hết thời hạn 07 ngày này mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Thẩm phán mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Phương Anh đã hệ thống hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận và các quy phạm pháp luật thực định về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm. Đề tài phân tích chi tiết các quyền năng tố tụng từ giai đoạn nộp đơn khởi kiện, phản tố, yêu cầu độc lập, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu đến thủ tục hòa giải và tự thỏa thuận theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, công trình nhận diện xác đáng các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp, tổ chức thực thi nhằm bảo đảm quyền con người, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong hoạt động tư pháp.