Chương I. Những vấn đề lý luận về nguyên tắc bình đăng về quyền và nghĩa vụ của trong t6 tụng hành chính Chương II: thực trạng và thực tiễn của nguyên tắc bình đăng quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính ở việt nam hiện nay, kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tac CHUONG I: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE NGUYÊN TAC BÌNH DANG VE QUYEN VA NGHIA VU CUA TRONG TO TUNG HANH CHINH 1. Khái niệm nguyên tắc bình dang về quyén và nghĩa vụ trong tô tụng hành chính 1. Khái niệm bình dang về quyên và nghĩa vụ trong tô tụng hành chính Đề tài về công bằng và bình đăng luôn là một chủ đề được quan tâm ở mọi thời kỳ lịch sử và ở mọi quốc trên thế giới.
Quyền bình đắng trước pháp luật thê hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống như kinh tế, văn hóa, xã hội. đặc biệt là trong lĩnh vực pháp lý, tư pháp, tố tụng. Tiêu chí của một đất nước văn minh hiện nay là pháp luật phải được thượng tôn, công băng, bình dang của mọi cá nhân, cơ quan, tô chức phải được đảm bảo bat kê vị thé giữa các cá nhân, cơ quan, tô chức đó năm ở giai tang nào. Dé nghiên cứu sâu hơn về khái niệm “bình dang về quyền và nghĩa vụ trong tô tụng hành chính”, việc bắt đầu tìm hiểu và khai thác từ những van đề, thuật cơ bản nhất là việc không thê thiếu, cụ thể là những khái niệm về thuật ngữ “ bình đăng”, “quyên và nghĩa vu” va “tô tụng hành chính”.
99 66 * Khai niệm về bình dang “Bình đăng” là một thuật ngữ mang rât nhiêu quan niệm khác nhau Theo từ điển Hán Việt thì “Bình đăng” là thuật ngữ dé chỉ “sự ngang hàng À SA À +] nhau về địa vị và quyền lợi ``. Theo từ điển xã hội thì “bình dang được hiểu trên hai phương điện có quan hệ mật thiết với nhau: bình diện tự nhiên và bình diện xã hội. Trên bình diện tự nhiên, bình dang không có nghĩa là mọi người đều có năng lực thé chất và tỉnh than hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên bình dang được coi là một thuộc tinh tự nhiên cua con người vì đó là con người. Trên bình điện xã hội, khái niệm bình đắng bao hàm nhiễu lĩnh vực khác nhau: Bình dang kinh tế, bình dang chính trị, bình dang chủng ' Đào Duy Anh, Hán Việt Từ Điển, Nxb Trường Thi Sài Gòn, tr.
66 tộc, bình dang giới tính. Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1995 cũng chi ra “bình dang’ , được định nghĩa là sự được đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa không phân biệt thành phan dia vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đăng trước pháp luật.” Nghiên cứu về quyền bình đắng của đương sự, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đâu đã chỉ rõ bình đẳng tức “không bao hàm ý nghĩa giàu nghèo, sang hèn, mạnh yếu, tất cả đều phải chung một số phận trước công lý”. Ong khang định quyền bình đăng sẽ “san phang sự bất bình dang của moi công dân trước công lý về phương diện bản chất của tòa án và luật lệ áp dụng”, vì thế quyền bình đăng của đương sự phụ thuộc nhiêu vào thái độ, hành vi của toa án”. Những quan điểm đầu tiên về bình đẳng thậm chí đã được hình thành ngay từ thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thủy.
Ở đó, bình đăng được quan niệm như là sự cần thiết phải chấp hành các tập quán và nghi lễ đang tôn tại”. Những trào lưu triết học, xã hội học, luật học và đạo đức học trước chủ nghĩa Mác-Lênin và những lý luận không mác xít tiếp theo xem xét bình dang trong su tách rời với cơ cấu kinh tế, xã hội, giai cấp của xã hội. Những trào lưu và lý luận đó coi bình đăng là một khái niệm hết sức trừu tượng, hình dung bình đắng như một thứ đã được xác lập bang sức mạnh có từ trước, là phạm trù trống rỗng mà có thé lấp đầy bất cứ nội dung nào tùy theo ý muốn chủ quan có lợi ích cho những giai cấp mà các trào lưu, học thuyết đó bảo vệ. Những trào lưu này đưa ra những khái niệm, những lý giải và quan điểm không giống nhau về bình đăng.
Tuy khác nhau về quan điểm, và có những lý giải không giống nhau nhưng chúng đều chung một điểm là đêu che đậy nguôn gôc hiện thực của các quan điêm về bình đăng. Theo một sô * Nguyễn Khắc Việt (chủ biên) (1994), Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr21 ; http://tuyengiao.vn/nghien-cuu/ly-luan/gia-tri-cong-bang-yeu-cau-noi-tai-cua-chu-nghia-xa-hoi-l 13953 4 Nguyên Huy Dau (1962), Luật tô tụng dân sự Việt Nam, Xuat ban dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, trang 116,118, 44. ° Trần Việt Hùng(2013) Nguyên tắc bình dang trước luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học (ĐHQG Hà Nội) quan niệm, lý luận thì nguôn gôc của bình dang bi đưa ra khỏi phạm vi xã hội, gan với một sức mạnh vô hình từ các thé lực vô hình nào đó như thần linh, thượng dé. Theo một số quan niệm khác thì bình đăng của một giai cấp được coi như là các quan niệm về bình đăng của toàn xã hội.
Các giai cấp thống trị luôn đưa ra những quan niệm về bình đăng gắn liền với thứ có lợi đối với lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của ho và không bình dang gắn liền với thứ bat lợi với các lợi ích đó. Quan niệm về bình đăng của các giai cấp luôn có những sự liên quan rất chặt chẽ với một kiêu quan niệm về lợi ích. Lịch sử cũng chi ra quan niệm về bình đăng của giai cấp chiếm hữu nô lệ mang tính giai cấp của giai cấp chiếm hữu nô lệ. quan niệm bình đăng của giai cấp phong kiến được lẫy ra từ quan điểm giai cấp của giai cấp phong kiến.
quan niệm về bình đắng của giai cấp tư sản cũng được xây dựng trên quan điểm giai cấp của giai cấp tư sản. Những quan niệm này về bình đẳng được xây dựng trên quan điểm của giai cấp thống trị, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà giai cấp thống trị này là thiểu số trong xã hội. Trong chủ nghĩa xã hội khái niệm về bình đẳng vẫn giữ nguyên tính giai cấp của mình. Tuy nhiên ở xã hội này quan niệm về bình dang được hình thành từ giai cấp đặc biệt nhất trong lịch sử xã hội, giai cấp của phần lớn nhân dân trong xã hội.
Trong chủ nghĩa xã hội, quan niệm về bình dang gắn liền với tất cả những gi đáp ứng được các lợi ích của toàn nhân dân, lợi ích chung của toàn xã hội. Đối với những nhà kinh điển tư tưởng dân chủ như Pericles (495 — 429 TCN), Solon (638 — 559 TCN), Tocqueville (1805 — 1859) thì dân chủ là hình thức căn ban của công băng, và nguyên tac binh đăng là nguyên tac tôi cao của nó Trước câu hỏi, công bằng là gi, thông thường được trả lời rằng: Hat nhân của công bằng là sự bình dang. Tw đó chúng ta cũng thay rằng bình dang không phải là tat cả của công bằng. Tuy nhiên, thời kỳ sau Immanuel Kant (1724 — 1804), đặc biệt trong chủ nghĩa thực chứng (Positivism), người ta thường định nghĩa ngắn gọn sự công bang trong nguyên tắc binh dang, và sự bình đăng này được thé hiện trong công thức: Đổi xứ như nhau doi với những cai giông nhau và không như nhau doi với những cái không giống nhau.
Arthur Kaufmann tiếp thu, phát trién tư tưởng trên của Radbruch và lập luận rằng, công bằng (theo nghĩa rộng) có ba khía cạnh: sự bình đẳng (công bằng theo nghĩa hẹp), sự phù hợp với mục đích (chính là công băng xã hội) và sự bảo đảm an toàn pháp by (hiệu lực của luật) (Kaufmann, 1997, tr. Bình đăng là khía cạnh hình thức của công bằng, sự phù hợp với mục đích là khía cạnh øôi dung của công bang va sự bảo đảm an toàn pháp lý là chirc năng của công bằng. Tuy nhiên sự phân biệt ba khía cạnh hình thức, nội dung và chức năng của công bằng chỉ dé đáp ứng nhu cầu hệ thống hóa các khía cạnh của công bằng. Còn sự thật thì công bằng vừa là hình thức, nội dung và chức năng.
Không thé có nguyên tắc bình dang ma hoàn toàn không có nội dung, và sự an toàn pháp lý không chỉ tồn tại cho bản thân, mà dé phục vụ cho bình dang và công bằng xã hội. Cho nên sự phân chia trên không phải là sự phân biệt bản chất của công bang, mà là sự xác định cung bậc các khía cạnh của nó (Kaufmann, 1997, tr. Theo Kaufmann, quan điểm của Aristote về công bằng mà hạt nhân của nó là sự bình dang (Gleichheit): đổi xử như nhau đối với những cái như nhau và đối xử khác nhau đối với những cái khác nhau, cho đến nay vẫn là xuất phát điểm của nhiều học thuyết triết học pháp quyền phương Tây. Aristote đã phân biệt hai loại công bang, trong đó sự bình đăng thé hiện ở hai hình thức khác nhau, đó là công bằng bù trừ (iustitia commutativa) và công bằng phân chia (iustitia distributiva).
Công bằng bù trừ là công bằng giữa những cái khác nhau trong tự nhiên, nhưng như nhau trước pháp luật. Công bang bù trừ có nghĩa là sự bình dang tuyệt đôi giữa đưa và nhận giữa những cái được pháp luật xem như nhau, chăng hạn như hàng hóa và giá cả, thiệt hại và bồi thường. Còn céng bằng phân chia lại là sự bình đăng tương quan trong sự đối xử với một nhóm người, là sự phân bổ quyền và nghĩa vụ theo các chuẩn độ xứng đáng, khả năng, nhu cầu (Kaufmamn, 1997, tr. 10 Công bằng phân chia là hình thức nguyên thủy của công bằng, còn công bang bu frừ của tư luật phải được tạo lập bởi một hành vi quyền lực (chăng hạn của cơ quan lập pháp) , ví dụ như việc quy định những điều kiện để có năng lực pháp luật hay năng lực hành vi.
Ở đây công thức “Suum cuique tribuere” (chia cho mỗi người cái mà họ đáng được nhận) không được phép hiểu là một công cụ để san bang moi thứ, không phải là mỗi người được nhận cái như nhau, mà mdi người được nhận cải thuộc về họ, nghĩa là trao cho họ cơ hội đạt được điều tiềm ấn trong bản thân họ. Tuy nhiên, theo Kaufmann, nguyên tắc bình dang trên của Aristote trước hết chỉ mang tính thuần túy hình thức, bởi nó chỉ nói rằng những gì giống nhau phải được đối xử như nhau và những gì khác nhau phải được đối xử khác nhau. Nhưng nó không nói rằng cái gì giống nhau và cái gì khác nhau.