Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TÁC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG LUẬT TỔ TỤNG HÌNH SỰ 1. LƯỢC KHẢO VỀ NGUYÊN TÁC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG LỊCH SỬ TƯ PHÁP HÌNH SỰ THỂ GIỚI Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm, danh dự, các quyền cơ bản của con người luôn là niềm khát vọng cháy bỏng của loài người tiến bộ. Tồn tại với tính chất là một nguyên tác của luật tố tụng hình sự, suy đoán vô tội đã có quá trình hình thành và phát triển từ lâu trong lịch sử nhân loại và được thể hiện ở những hình thức, mức độ khác nhau. Nghiên cứu Bộ luật cổ Manu thời kỳ Ấn Độ cổ đại cho thấy, Bộ luật này có nhiều quy định bảo dam Tòa án xét xử công minh.
Điều 14 chương 8 Bộ luật quy định: "Luật pháp sẽ chết bởi sự lộng hành", còn Điều 17 chương này quy định: "Người bạn duy nhất luôn song hành cùng con người ngay cả sau khi họ chết, đó là sự xét xử công minh, còn thì tất cả đều chết cùng thân thể con người” (129, tr. Trong Bộ luật này, mặc dù chưa có quy định cụ thể về nguyên tắc suy đoán vô tội, nhưng cũng đã có quy định về một trong những yếu tố cấu thành nội dung nguyên tắc, đó là nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về người buộc tội. Phân tích các quy phạm pháp luật thời kỳ Hy Lạp cổ đại cho thấy, thời điểm đó chưa có sự phân chia quy phạm pháp luật thành quy phạm vật chất và quy phạm hình thức. Các vụ án dân sự do nguyên đơn khởi kiện, còn các vụ án hình sự do người buộc tội khởi tố.
Nghĩa vụ chứng minh trong các vụ án dân sự thuộc về người bị hại được gọi là nguyên đơn, còn nghĩa vụ chứng minh trong các vụ án hình sự thuộc về người buộc tội. Việc kết án được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu kín. Nếu số phiếu chông hoặc ủng hộ bằng nhau, thì 2 bị cáo sẽ được tuyên là vô tội. Đây cũng có thể được coi là manh nha của nguyên tắc suy đoán vô tội vì một trong những nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội được thừa nhận rộng rai trong luật t6 tụng hình sự hiện đại là trong trường hợp lỗi của người bị buộc tội không thể được chứng minh theo đúng các trình tự, thủ tục quy định thì phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ.
Với việc được tuyên là vô tội, bị cáo có quyền khởi kiện chống lại sự buộc tội gian dối. Theo đó, những người buộc tội có thể bị phạt tiền, tước quyền công dân và trong một số trường hợp có thể bị tử hình. Tương tự như pháp luật Ấn Độ cổ đại, pháp luật Hy Lạp cổ đại, pháp luật La Mã cổ đại cũng chưa có quy định cụ thể về nguyên tắc suy đoán vô tội, nhưng cũng đã xuất hiện những yếu tố cấu thành nội dung của nguyên tắc. Nghĩa vụ chứng minh (onus probandi) trong vụ án hình sự là vấn đề đã được dé cập từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên.
Trong pháp luật La Mã cổ đại đã hình thành nguyên tắc: trách nhiệm chứng minh thuộc về người khẳng định, chứ không thuộc về người phủ định (ei incumbit probatio qui dicit, non quy negat) [129, tr. Trong kiểu tố tụng tố cáo rất thịnh hành thời kỳ này, người tố cáo có nghĩa vụ chứng minh và không có người tố cáo thì không có quan tòa (nemo judex sine actore). Người tố cáo phải thu thập chứng cứ trong một thời hạn do quan tòa quy định, sau thời hạn này, người đó tiến hành việc tố cáo trước quan tòa (nominis vel criminis delatio). Trình tự xét xử (in judicium) diễn ra trong sự tranh luận giữa người tố cáo - bên buộc tội với bên gỡ tội, trong đó trách nhiệm chứng minh và đề xuất chứng cứ hoàn toàn do người tố cáo chịu trách nhiệm [17, tr.
Chân lý được coi là mục đích của sự chứng minh và trách nhiệm chứng minh thuộc về người buộc tội. BỊ cáo được sử dụng quyền bào chữa và sử dụng dịch vụ của người bào chữa. Pháp luật La Mã cổ đại nghiêm cấm việc sử dụng các hình thức tra tấn đối với bị cáo trong các vụ án hình sự (tra tấn chi được phép sử dụng đối với nô lệ bị coi là công cụ biết nói). Đặc biệt, pháp luật La Mã cổ đại quy định: mọi nghi ngờ phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị cáo, đây có thể nói là quy định rất tiến bô° trong & lich l sử tư pháp D hình sư` của loài người g thời kỳ này.
Ngoài g ra, biỊ cáo còn có quyền tự do khi chưa bị kết án và có quyền rời khỏi phiên tòa bất cứ thời điểm nào. Việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ được Tòa án thực hiện bởi niềm tin nội tâm mà không chịu sự ràng buộc nào khác. Vào thế kỷ thứ VII, thứ VII, ở chau Âu đã xuất hiện kiểu tố tụng tranh tụng có vai trò rất lớn trong việc phát triển những tư tưởng của nguyên tắc suy đoán vô tội được hình thành từ thời kỳ cổ đại. Theo Giáo sư người Nga thế kỷ thứ XIX D.Talbe, kiểu tố tụng tranh tụng có những đặc điểm sau: 1) Việc khởi tố và đình chỉ vụ án hình sự phụ thuộc vào nguyên đơn và người bị hại; 2) BỊ đơn và bị cáo được tự do sử dụng chứng cứ để chống lại sự buộc tội; 3) Việc xuất trình chứng cứ được thực hiện theo sự thỏa thuận của hai bên theo đúng quy định về thời hạn; 4) Thẩm phán không tham gia vào việc thu thập chứng cứ và chỉ ra phán quyết trên cơ sở chứng cứ mà hai bên đưa ra; 5) Việc xét xử được tiến hành công khai, bằng lời nói và trên cơ sở tranh tụng [131, tr.
Kiểu tố tụng tranh tụng được tiến hành rất phổ biến thời kỳ này, tuy nhiên nghĩa vụ chứng minh lại được quy định trong luật nội dung chứ không phải trong luật hình thức. Điều đó có nghĩa, vào thời kỳ Trung cổ, ở châu Âu, vấn dé nghĩa vụ chứng minh không được quy định chung, mà được quy định đối với từng tội phạm cụ thể như tội giết người, trộm cắp, làm nhục người khác. Trong thời kỳ này, về mặt lý luận, các nhà khoa học chưa giải quyết mối liên hệ giữa nghĩa vụ chứng minh với các nguyên tắc tố tụng hình sự khác như nguyên tắc tranh tụng giữa các bên, nguyên tắc công khai, trực tiếp, nguyên tắc đạt được chân lý của vụ án. Vào thế kỷ thứ XV, XVI, XVII, XVIII, ở châu Âu xuất hiện kiểu tố tụng xét hỏi, tạo tiền đề lý luận cho việc hình thành lý thuyết về nguyên tắc suy đoán vô tội và ghi nhận về mặt lập pháp nguyên tắc này.
Vào thời kỳ này, ở Pháp, xuất hiện những Gens du Roi (người nhà Vua), có sứ mệnh bảo vệ lợi ích của nhà Vua, thực hiện chức năng tố cáo và thực hiện nghĩa vụ chứng minh trước Tòa án. O nước Nga thời kỳ trước Cách mạng tháng Mười, cơ quan 11 công tố thực hiện nghĩa vụ chứng minh, trừ những án kiện được gọi là tư tố; người tư tố có nghĩa vụ chứng minh căn cứ của việc tố cáo. Theo Giáo sư người Nga D.Talbe, kiểu tố tụng xét hỏi có những đạc điểm sau: 1) Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng khởi tố vụ án hình sự và tiến hành điều tra mà không phụ thuộc vào đơn kiện của người bị hại; 2) Bị cáo có thể đưa ra những lý do để bào chữa, nhưng chỉ trong giới hạn mà Tham phán cho phép; 3) Việc điều tra được tiến hành theo những quy tac và thời hạn nhất định; 4) Phan quyết của Tòa án được hình thành trên cơ sở những chứng cứ do Thẩm phán thu thập được một cách trực tiếp; 5) Vụ án được tiến hành một cách công khai hoặc bí mật trên cơ sở hồ sơ vụ án [13I, tr. Nam 1764, luật gia người Italia Tr.
Becaria đã cho ra đời cuốn sách: "Về tội phạm và hình phat" có ảnh hưởng rất lớn không những đối với các nhà hoạt động xã hội và tôn giáo, mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động lập pháp tố tụng hình sự. Trong cuốn sách này, tác giả đã rút ra hai kết luận quan trọng: thứ nhất, tra tấn với tính chất là phương thức thu thập chứng cứ và chứng minh chân lý trong vụ an hình sự phải được coi là vô nhân đạo và không nên sử dụng; tit hai, con người không thể bị gọi là người phạm tội khi chưa có phán quyết buộc tội của Tòa án và xã hội không có quyền tước sự bảo trợ đối với người này khi chưa giải quyết xong việc người đó có vi phạm điều kiện phải tuân thủ hay không. Như vậy, trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự của loài người, Tr. Becaria là người đầu tiên dé cập những vấn đề lý luận về nguyên tắc suy đoán vô tội.
Những cống hiến lý luận về nguyên tắc suy đoán vô tội của Tr. Becaria đã được các nhà lập pháp của châu Âu chú ý nghiên cứu. Ở nước Nga, năm 1767, Nữ hoàng Nga Êkaterina đã có ý định ghi nhận về mặt pháp lý nguyên tắc suy đoán vô tội và những nguyên tắc pháp lý tiến bộ khác vào Bộ luật tố tụng hình sự của Nga, nhưng không thành công. Theo giải thích của chính Nữ hoàng.
cuộc chiến tranh giữa Nga và Thổ Nhĩ Kỳ đã can trở ý định tốt đẹp này. Cách mạng tu sản Pháp đã dua ra nhiều tư tưởng tiến bộ về quyền con người và tự do cá nhân. Một trong những tư tưởng tiến bộ đó là tư tưởng suy đoán vô tội và được ghi nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Cong hòa Pháp ngày 23/8/1789. Lan đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nguyên tắc suy đoán vô tội đã chính thức được ghi nhận về mặt pháp lý tại Điều 9: "Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội; nếu xét thấy cần thiết phải bat giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho việc bat giữ đều bị luật pháp xử lý nghiêm khác” [62, tr.
Việc Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Cộng hòa Pháp chính thức ghi nhận về mặt pháp lý nguyên tắc suy đoán vô tội đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nhân loại tiến bộ và phải coi đây là mốc son trong lịch sử hình thành và phát triển nguyên tắc suy đoán vô tội.