Quyền Tự Bào Chữa của Người Bị Buộc Tội theo Quy Định trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2015

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls quyền tự bào chữa của người bị buộc tội theo quy định trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

108
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

1.2. Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định quyền tự bào chữa trong luật TTHS

1.3. Quyền tự bào chữa trong luật TTHS một số nước

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1. Pháp luật về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trước năm 2015

2.2. Pháp luật về quyền tự bào chữa từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành

2.3. Quyền tự bào chữa trong pháp luật TTHS Việt Nam từ khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành đến năm 2003

2.4. Quyền tự bào chữa từ khi có Bộ luật TTHS năm 2003 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 2015 có hiệu lực

2.5. Pháp luật về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong Bộ luật TTHS năm 2015

2.6. Quyền tự bào chữa của người bị bắt, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

2.7. Quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ

2.8. Quyền tự bào chữa của bị can

2.9. Quyền tự bào chữa của bị cáo

2.10. Quyền tự bào chữa của người dưới 18 tuổi

2.11. Trách nhiệm bảo đảm quyền tự bào chữa cho người bị buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng

2.12. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

3.2. Thực tiễn bảo đảm quyền tự bào chữa cho người bị buộc tội theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015

3.3. Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền tự bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

3.4. Các kiến nghị pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền tự bào chữa đối với người bị buộc tội

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Quyền Tự Bào Chữa của Người Bị Buộc Tội

Quyền tự bào chữa là một trong những quyền cơ bản của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, quyền này được ghi nhận nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị cáo. Quyền tự bào chữa không chỉ là một quyền con người mà còn là một phần thiết yếu trong việc đảm bảo công bằng trong quá trình xét xử. Việc thực thi quyền này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội và đảm bảo tính khách quan của các cơ quan tư pháp.

1.1. Khái niệm Quyền Tự Bào Chữa trong Tố Tụng Hình Sự

Quyền tự bào chữa được hiểu là quyền của người bị buộc tội tự mình trình bày lập luận và chứng cứ để bảo vệ bản thân trước các cáo buộc. Theo quy định tại Điều 11 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, quyền này được đảm bảo cho mọi người trong quá trình tố tụng hình sự.

1.2. Ý nghĩa của Quyền Tự Bào Chữa trong Pháp Luật

Quyền tự bào chữa không chỉ bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch và công bằng trong hoạt động tư pháp. Điều này giúp giảm thiểu khả năng xảy ra oan sai và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.

II. Những Thách Thức trong Việc Thực Thi Quyền Tự Bào Chữa

Mặc dù quyền tự bào chữa đã được ghi nhận trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, nhưng việc thực thi quyền này vẫn gặp nhiều thách thức. Các cơ quan tư pháp và người tiến hành tố tụng đôi khi chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho người bị buộc tội thực hiện quyền này. Điều này dẫn đến việc nhiều người không thể bào chữa cho mình một cách hiệu quả.

2.1. Thiếu Thông Tin và Hỗ Trợ Pháp Lý

Nhiều người bị buộc tội không được thông báo đầy đủ về quyền tự bào chữa của mình, dẫn đến việc họ không thể thực hiện quyền này. Việc thiếu thông tin và hỗ trợ pháp lý từ các cơ quan chức năng là một trong những nguyên nhân chính gây khó khăn cho người bị cáo.

2.2. Áp Lực Từ Các Cơ Quan Tố Tụng

Trong một số trường hợp, người bị buộc tội có thể cảm thấy áp lực từ các cơ quan tố tụng, khiến họ không dám thực hiện quyền tự bào chữa. Điều này có thể dẫn đến việc họ không trình bày đầy đủ các chứng cứ và lập luận của mình.

III. Phương Pháp Bảo Đảm Quyền Tự Bào Chữa Hiệu Quả

Để bảo đảm quyền tự bào chữa được thực thi hiệu quả, cần có những biện pháp cụ thể từ các cơ quan chức năng. Việc nâng cao nhận thức về quyền này trong cộng đồng và trong các cơ quan tư pháp là rất cần thiết.

3.1. Tăng Cường Đào Tạo và Nâng Cao Nhận Thức

Các cơ quan tư pháp cần tổ chức các khóa đào tạo về quyền tự bào chữa cho cán bộ, công chức. Điều này giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi của người bị buộc tội và cách thức bảo đảm quyền này trong quá trình tố tụng.

3.2. Cải Thiện Quy Trình Tố Tụng

Cần cải thiện quy trình tố tụng để tạo điều kiện thuận lợi cho người bị buộc tội thực hiện quyền tự bào chữa. Việc này bao gồm việc đảm bảo họ có đủ thời gian và điều kiện để chuẩn bị bào chữa.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Quyền Tự Bào Chữa trong Tố Tụng Hình Sự

Việc áp dụng quyền tự bào chữa trong thực tiễn còn nhiều hạn chế. Nhiều vụ án cho thấy người bị buộc tội không được thực hiện quyền này một cách đầy đủ, dẫn đến những kết quả không công bằng trong xét xử.

4.1. Các Vụ Án Tiêu Biểu

Có nhiều vụ án mà quyền tự bào chữa của người bị buộc tội không được đảm bảo, dẫn đến việc họ không thể chứng minh sự vô tội hoặc các tình tiết giảm nhẹ tội. Những vụ án này cần được xem xét lại để rút ra bài học kinh nghiệm.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Thực Thi Quyền Tự Bào Chữa

Cần có những nghiên cứu đánh giá hiệu quả thực thi quyền tự bào chữa trong các vụ án hình sự. Việc này giúp xác định những điểm mạnh và điểm yếu trong quy trình tố tụng hiện tại.

V. Kết Luận và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả

Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội là một quyền cơ bản trong tố tụng hình sự. Để nâng cao hiệu quả thực thi quyền này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp và các tổ chức xã hội. Việc cải cách pháp luật và nâng cao nhận thức về quyền tự bào chữa là rất cần thiết.

5.1. Đề Xuất Cải Cách Pháp Luật

Cần xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến quyền tự bào chữa để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong thực tiễn.

5.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Cơ Quan

Các cơ quan tư pháp cần tăng cường hợp tác với các tổ chức xã hội và luật sư để đảm bảo quyền tự bào chữa cho người bị buộc tội được thực hiện đầy đủ và hiệu quả.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền tự bào chữa của người bị buộc tội theo quy định trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự 1. Tự bào chữa là quyền con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế Tự bào chữa là tự mình sử dụng lập luận, chứng cứ để bênh vực cho hành vi của bản thân đang bị xem là phạm pháp hoặc đang bị lên án, đang bị buộc tội.Theo từ điển tiếng Việt: “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước tòa án hoặc cho một việc làm đang bị lên án” còn “tự bào chữa là tự mình thực hiện” [45]. Trong khoa học pháp lý TTHS, khái niệm quyền bào chữa được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Quyền tự bào chữa là một bộ phận không tách rời của quyền bào chữa và là một chuẩn mực bắt buộc trong quyền được xét xử công bằng và được xem là một trong những quyền cơ bản của con người.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, quyền bào chữa có lịch sử phát triển lâu đời với những cách hiểu và quy định khác nhau từ thời Trung cổ ở Châu Âu. Để quyền tự bào chữa được thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm thực thi trên thực tế thì quyền này phải được quy định trong các văn bản pháp lý mang tính bắt buộc thi hành. Trước hết, quyền tự bào chữa phải được xây dựng dựa trên cơ sở, chuẩn mực quốc tế, sau đó, được nội luật hóa bằng các quy định pháp luật trong từng quốc gia cụ thể, với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Khi nghiên cứu về quyền tự bào chữa, chúng ta bắt buộc phải nghiên cứu chế định này trong mối tương quan với quyền bào chữa.

Với quá trình hình thành và phát triển lâu đời, hiện nay, quyền tự bào chữa đã được công nhận như là một 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuẩn mực mang tính toàn cầu, được tất cả các quốc gia trên thế giới công nhận. Để có cái nhìn tổng quát về quyền tự bào chữa, chúng ta có thể tham khảo những quy định đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) đã xác định những quyền cơ bản của một người khi phải đối mặt với những cáo buộc hình sự. Tại Điều 10 của UDHR ghi nhận “Mọi người đều bìnhđẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Toà án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ”[38].

Điều 11 của Tuyên ngôn xác định“Bất cứ ai bị cáo buộc về một hành vi phạm tội đều được quyềnsuy đoán vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội trước một phiên tòa công khai, nơi mà anh ta được cung cấp những bảo đảm cần thiết cho việcbào chữa”[37]. Với cách quy định này, Tuyên ngôn không quy định trực tiếp thế nào là quyền tự bào hay quyền tự bào chữa cho một người chữa nhưng Tuyên ngôn đã ghi nhận một trong những tiêu chí cơ bản của xét xử công bằng là quyền được có những bảo đảm hợp lý cho việc bào chữa của người bị buộc tội. Theo tinh thần chung của UDHR thì các quy định về bảo đảm quyền bào chữa nói chung trong đó có quyền tự bào chữa đã được ghi nhận và cụ thể hóa ở nhiều văn kiện quốc tế khác. Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc có hiệu lực ngày 23/3/1976; Việt Nam gia nhập Công ước vào ngày 24/9/1982, tạikhoản 3 Điều 14 của Công ước quy định các quyền cơ bản hay những bảo đảm tối thiểu mà một người được hưởng trong quá trình tố tụng nhằm bảo đảm việc xét xử công bằng, trong đó có quyền tự bào chữa.

Với những quy định này, trong quá trình xét xử hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng những quyền cơ bản như: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “(a) Được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình; (b) Có đủ thời gian và điều kiện để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn; (c) Được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý; (d) Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả; (e) Được đối chất hoặc yêu cầu đối chất những nhân chứng buộc tội mình, và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tham gia; (f) Được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà; (g) Không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội.” [38] Quyền tự bào chữa có vai trò đặc biệt do đây là quyền đầu tiên và không thể bị tách rời, mang tính chất bảo đảm cho các quyền khác của con người được thi hành trong quá trình tố tụng. Khoản 3 Điều 14 ICCPR khẳng định trong quá trình xét xử hình sự, mọi người phải được đáp ứng những bảo đảm tối thiểu liên quan đến quyền tự bào chữa. Các quyền đó bao gồm quyền được biết lý do buộc tội, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, được xét xử nhanh chóng, được đối chất với người làm chứng.Để có thể thực hiện việc bào chữa, người bị buộc tội phải được thông báo về lý do buộc tội (điểm a). Trong bộ Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam giữ hay tù dưới bấtkỳ hình thức nào (1988)được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bằng Nghị quyết 43/173 ngày 9/12/1988 tiếp tục nhấn mạnh quyền được 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông báo này của người bị bắt giữ, theo đó “Bất kỳ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo ngay khi bị bắt giữ về lý do của việc bắt giữ, và phải được thông báo ngay về bất kỳ lời buộc tội nào đối với họ”[47].

Bên cạnh quyền có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc bào chữa (điểm b), bị cáo lại có quyền được xét xử nhanh chóng, quyền tự bào chữa và quyền nhờ luật sư, quyền được có phiên dịch. Bị can, bị cáo không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội và nghĩa vụ chứng minh trong vụ án hình sự thuộc về bên buộc tội. Những quy định này được cụ thể hóa tại Bình luận chung số 32 của Ủy ban giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị về quyền bình đẳng trước Tòa án và quyền được xét xử công bằng đã hướng dẫn cụ thể về các bảo đảm tối thiểu được quy định tại Điều 14 Công ước. Thuật ngữ “thời gian đầy đủ (hay thời gian thích đáng)” được giải thích là : thời gian đầy đủ” cho việc chuẩn bị phụ thuộc vào từng vụ việc.

Tòa án chỉ có thể ra quyết định hoãn xét xử khi bị đơn bị kết tội hình sự nghiêm trọng và cần thời gian chuẩn bị cho việc bào chữa. Các điều kiện đầy đủ bao gồm: quyền tìm kiếm các tài liệu, chứng cứ khác; việc tiếp cận này bao gồm các tài liệu liên quan đến việc khởi tố và thông tin có thể dùng để bào chữa.Bình luận chung số 32 hướng dẫn cụ thể một số quy định như: bị cáo có quyền có mặt trong khi bị xét xử, nhưng trong một số trường hợp bị cáo có thể vắng mặt nếu sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến công lý và bị cáo đã được cơ quan tư pháp thông báo kịp thời cho họ về thời gian, địa điểm xét xử và yêu cầu họ tham gia trước đó nhưng họ vẫn từ chối thực hiện quyền có mặt trong phiên tòa (Đoạn 36). Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Việc tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa của bị cáo phải được cơ quan có thẩm quyền thông báo.

Cá biệt ở một số trường hợp, tòa án có thể chỉ định một luật sư không theo ý muốn của bị cáo. Nhưng, việc hạn chế ý muốn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tự bào chữa của bị cáo phải thực sự “có mục đích hợp lý và khách quan và không vượt quá sự cần thiết thực thi công lý” [48]. Cơ quan điều tra không được can thiệp hoặc gây áp lực tâm lý đối với người bị tình nghi hay bị can nhằm ép họ nhận tội. Đối với những lời khai hoặc lời nhận tội có được bằng phương thức tra tấn, thì không được coi là chứng cứ, trừ khi chúng được sử dụng làm bằng chứng của việc tra tấn hoặc những đối xử khác trái với quy định (Đoạn 41 Bình luận chung số 32).

Như vậy quy định tại Điều 14 đã xác định nội dung của quyền bào chữa bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa. Ngoài ra quyền tự bào chữa còn được ghi nhận và bảo đảm ở nhiều văn bản pháp lý khác có liên quan như “Các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về vai trò của Luật sư”, “Quy chế Roma về Tòa án hình sự quốc tế”, Công ước Châu Âu về quyền con người (ECHR), Công ước Châu Mỹ về quyền conngười (AmCHR) và Hiến chương Châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc (AfCHPR), tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bằng Nghịquyết 43/173 ngày 9/12/1988. Công ước Châu Âu về quyền con người (EHRC) cũng có các quy định về quyền tự bào chữa cho người bị cáo buộc về hình sự.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Quyền Tự Bào Chữa của Người Bị Buộc Tội theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền này trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, đồng thời giúp người bị buộc tội có cơ hội trình bày quan điểm và chứng minh sự vô tội của mình.

Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ quyền tự bào chữa, bao gồm khả năng bảo vệ bản thân trước các cáo buộc và nâng cao nhận thức về quy trình tố tụng hình sự. Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ vnu ls khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong luật tố tụng hình sự việt nam", nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về quy trình khởi tố vụ án và quyền lợi của người bị hại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hình sự, từ đó nâng cao hiểu biết và khả năng tự bảo vệ bản thân trong các tình huống pháp lý.