mở đầu cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Khi các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự là lúc bắt đầu áp dụng các quy định của pháp luật hình sự. Và cũng chính thời điểm áp dụng các quy định của luật hình sự thì cũng là lúc các quan hệ pháp luật hình sự được thực hiện. Nếu không có giai đoạn khởi tố vụ án hình sự thì sẽ không có các giai đoạn tố tụng tiếp theo.
Thêm vào đó, khởi tố 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụ án hình sự cũng góp phần loại trừ một thái cực khác trong hoạt động tư pháp hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố vụ án hình sự một cách thiếu cân nhắc, vội vàng và do vậy sẽ kéo theo một loạt hậu quả tiêu cực trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong các giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo như điều tra không có căn cứ đối với những hành vi không chứa đựng dấu hiệu của tội phạm hoặc không diễn ra trong thực tế khách quan, khám xét, bắt, giam giữ, buộc tội, xét xử một cách vô căn cứ, trái pháp luật. Việc khởi tố thiếu căn cứ pháp lý là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng hình sự và cũng gây ra những thiệt hại không nhỏ cho công dân trong xã hội. Mặt khác, khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trước khi khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của giai đoạn điều tra, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội. Bên cạnh quy định về căn cứ khởi tố vụ án hình sự là khi xác định có dấu hiệu tội phạm, BLTTHS cũng quy định những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự nhằm tránh sự tùy tiện xâm phạm quyền và lợi ích của người dân.
Việc không khởi tố vụ án hình sự khi có những căn cứ mà pháp luật quy định cũng sẽ tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân vào sự công bằng của pháp luật, đồng thời cũng tiết kiệm sức người, sức của cho Nhà nước, bởi các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không phải tiến hành tố tụng một cách lãng phí. Về mặt chính trị - xã hội, khởi tố vụ án hình sự là biện pháp quan trọng nhằm ngăn chặn và phòng ngừa hành vi phạm tội, thể hiện sự phản ứng nhạy cảm và kịp thời của các cơ quan có thẩm quyền nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội. Khởi tố vụ án hình sự không chỉ thực hiện chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự mà còn là phương tiện cơ bản để thực hiện nguyên tắc không 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tránh khỏi trách nhiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. Việc khởi tố, điều tra và xét xử kịp thời các vụ án hình sự sẽ tạo ra trong công chúng niềm tin vào việc thực thi pháp luật.
Tội phạm gây ra nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội, tình hình tội phạm là một hiện tượng tiêu cực nhất cho xã hội bởi lẽ nó xâm phạm đến các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội. Gây ra hậu quả rất lớn về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tác động tiêu cực đến các hiện tượng xã hội khác, đến tiến trình phát triển xã hội nói chung. Vì vậy đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm luôn là một bức xúc, đòi hỏi sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các cấp, các ngành cũng như của mọi người trong xã hội, trong đó các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giữ vai trò nòng cốt. Cũng bởi vì như vậy, khởi tố vụ án hình sự có một ý nghĩa quan trọng trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và kịp thời góp phần bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân, bảo đảm cho mọi hoạt động xâm phạm lợi ích chính đáng của Nhà nước, công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Nó còn có ý nghĩa giáo dục mọi công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tránh những hành vi trái đạo đức, trái pháp luật, đem lại cuộc sống bình yên cho mọi công dân, làm cơ sở cho mọi công dân có môi trường lành mạnh cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới. Ngược lại, nếu các vụ án có dấu hiệu hình sự mà không được khởi tố kịp thời hay không được khởi tố hoặc khởi tố thiếu căn cứ pháp lý thì sẽ dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, người phạm tội không bị phát hiện và xử lý, hoặc dẫn đến việc chứng cứ bị tiêu hủy, mất mát, không còn giá trị chứng minh sự thật khách quan của vụ án, vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng hình sự, gây thiệt hại không nhỏ đến lợi ích của người bị hại cũng như của toàn xã hội. BLTTHS cũng có quy định về những căn cứ không được khởi tố vụ án 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình sự.
Nếu thấy có một trong bảy căn cứ được quy định tại Điều 107 BLTTHS năm 2003 thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý của người có thẩm quyền khởi tố xác định thông tin về tội phạm hoặc một sự việc nào đó không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Các căn cứ đó bao gồm: Không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu TNHS; tội phạm được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác. Đây là một biện pháp đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân không bị xâm phạm tùy tiện.
Việc không khởi tố vụ án hình sự khi không có đủ căn cứ theo pháp luật quy định cũng sẽ tạo niềm tin cho nhân dân vào sự công bằng của pháp luật, đồng thời cũng tiết kiệm sức người, sức của cho Nhà nước, tránh sự lãng phí không cần thiết. Cuối cùng, việc khởi tố vụ án hình sự còn góp phần đấu tranh chống tội phạm ẩn. Tình trạng tội phạm ẩn diễn biến rất phức tạp và có chiều hướng ngày càng gia tăng. Vì vậy việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự cũng có tác động tích cực đến việc làm giảm tội phạm ẩn trong xã hội.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại 1. Khái niệm, ý nghĩa khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại Người bị hại là một trong những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Việc tham gia tố tụng của người bị hại không chỉ nhằm bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã bị hành vi phạm tội xâm hại mà con góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Xác định đúng tư cách người bị hại, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của người bị hại trong quá trình tiến hành tố tụng là một trong những sự bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự được chính xác, khách quan, toàn diện.
Pháp luật của các nước không có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ người bị hại. Chẳng hạn luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp, Liên Bang Nga, Việt Nam dùng thuật ngữ “người bị hại” thì luật tố tụng hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa lại dùng thuật ngữ “người tố cáo”; ngoài ra người bị hại còn được gọi là “người bị thiệt hại” hay gọi là “nạn nhân”.Tuy có nhiều cách gọi như vậy nhưng việc sử dụng thuật ngữ nào cũng đều phải thể hiện được bản chất, nội dung, điều kiện và sự chặt chẽ của thuật ngữ. Theo quan điểm của chúng tôi, trong mối quan hệ mà luật tố tụng hình sự Việt Nam điều chỉnh thì dùng thuật ngữ “người bị hại” là phù hợp hơn cả. Theo từ điển tiếng Việt có thể hiểu người bị hại là con người cụ thể trong xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của việc, hành vi hoặc sự bất kỳ sự tác động nào dẫn đến sự thiệt thòi, mất mát hay tổn thương đến chính họ.
Tất nhiên là tác động trái ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một cách thụ động. Thiệt hại xảy ra cho người bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất và cũng cần phải giới hạn mức độ thiệt hại [15, tr. Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì người bị hại là người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại phải là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất,về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân [11, tr.
Từ các quan điểm trên cho thấy luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước đều có quan điểm người bị hại phải là đối tượng bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại hay phải xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về sức khỏe (do bị gây thương tích, gây tai nạn hay bị người phạm tội vi phạm quy tắc nghề nghiệp gây ra.) cũng có thể thiệt hại về tính mạng (bị giết, bị gây tai 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.) thiệt hại về tinh thần (bị lăng nhục, bị xúc phạm danh dự nhân phẩm. Người bị hại không những bị thiệt hại về những vấn đề trên mà còn bị thiệt hại về tài sản như bị đánh cắp, bị chiếm đoạt. Để các CQTHTT có thể xác định đúng người bị hại thì cần phải xác định thiệt hại mà tội phạm gây ra phải là thiệt hại trực tiếp.