Khóa luận tốt nghiệp luật học quyền thay đổi bổ sung rút yêu cầu của đương sự trong vụ án dân sự tại toà án cấp sơ thẩm và thực tiễn thực hiện tại toà án nhân dân quận long biên thành phố hà nội

Khóa luận phân tích quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm, thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Long Biên.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

87
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm quyền thay đổi bổ sung rút yêu cầu trong vụ án dân sự

Quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu là quyền cơ bản của bên kiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Quyền này cho phép bên kiện chủ động điều chỉnh nội dung tranh chấp của mình để phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu pháp lý. Theo Luật Tố tụng dân sự, bên kiện có thể thay đổi lý do kiện, bổ sung hoặc rút những yêu cầu cụ thể trong quá trình tranh tụng, miễn là không vượt quá các giới hạn pháp luật đã quy định.

1.1. Định nghĩa và phạm vi áp dụng

Thay đổi yêu cầu là việc bên kiện thay đổi nội dung của yêu cầu ban đầu. Bổ sung yêu cầu là thêm những yêu cầu mới sau khi đã kiện. Rút yêu cầu là bên kiện tự nguyện hủy bỏ yêu cầu đã nêu. Những quyền này được áp dụng trong cả quá trình sơ thẩm và thẩm phán, với những điều kiện và thủ tục riêng biệt.

II. Điều kiện và giới hạn của quyền thay đổi bổ sung rút yêu cầu

Pháp luật quy định rõ các điều kiện để bên kiện có thể thực hiện quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu. Thứ nhất, thay đổi yêu cầu phải không làm thay đổi bản chất của vụ tranh chấp. Thứ hai, bổ sung yêu cầu chỉ được chấp nhận trong những trường hợp nhất định và không được làm tăng gánh nặng cho bên bị kiện. Thứ ba, rút yêu cầu phải được bên kiện yêu cầu bằng văn bản hoặc trước tòa, và cần sự đồng ý của tòa án.

2.1. Thời hạn thực hiện quyền

Thay đổi và bổ sung yêu cầu phải được thực hiện trước khi bị cáo (bên bị kiện) nêu ý kiến bào chữa toàn bộ. Sau thời điểm này, việc thay đổi hoặc bổ sung chỉ được chấp nhận khi có đồng ý của bên bị kiện hoặc khi tòa án xét thấy cần thiết. Rút yêu cầu có thể thực hiện bất kỳ lúc nào, nhưng phải có yêu cầu rõ ràng từ bên kiện.

III. Thủ tục thay đổi bổ sung rút yêu cầu trong tố tụng dân sự

Thủ tục thực hiện quyền này tuân theo các quy định nghiêm ngặt của Luật Tố tụng dân sự. Bên kiện phải gửi đơn hoặc lệnh thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu đến tòa án và cơ quan chuyên môn. Tòa án sẽ xem xét yêu cầu và đưa ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối. Quy trình này đảm bảo tính công khai, minh bạch và bảo vệ quyền lợi của cả hai bên trong tranh chấp.

3.1. Các bước thực hiện cụ thể

Bước 1: Bên kiện soạn thảo đơn thay đổi, bổ sung hoặc yêu cầu rút. Bước 2: Nộp đơn cho tòa án có thẩm quyền. Bước 3: Tòa án thông báo cho bên bị kiện để có cơ hội phát biểu ý kiến. Bước 4: Tòa án quyết định chấp nhận hoặc từ chối. Bước 5: Ghi nhận quyết định trong bản ghi nhớ phiên tòa hoặc quyết định chính thức.

IV. Ý nghĩa pháp lý và những lưu ý quan trọng

Quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu có ý nghĩa pháp lý sâu sắc trong việc bảo vệ quyền lợi của bên kiện và đảm bảo tính công bằng trong tố tụng. Nó cho phép bên kiện sửa chữa những sai sót hoặc điều chỉnh dự định phù hợp với bằng chứng mới. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quyền này không vô hạn, phải tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên bị kiện.

4.1. Những rủi ro và cách phòng chống

Lạm dụng quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu có thể bị tòa án xem xét và từ chối. Để phòng chống, bên kiện nên soạn thảo yêu cầu kiện cẩn thận ngay từ đầu. Nên tư vấn với luật sư để hiểu rõ giới hạn và điều kiện. Tránh thay đổi liên tiếp yêu cầu gây gián đoạn quá trình tố tụng.

11/12/2025
Khóa luận tốt nghiệp luật học quyền thay đổi bổ sung rút yêu cầu của đương sự trong vụ án dân sự tại toà án cấp sơ thẩm và thực tiễn thực hiện tại toà án nhân dân quận long biên thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm. Chương 2: Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm. Chương 3: Thực tiễn thực hiện quy định về quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm và thực tiễn thực hiện tại TAND quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thực hiện pháp luật.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG, RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM 1. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN THAY ĐỔI, BỔ SUNG, RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM * Khái niệm “Quyền” Trước khi đưa ra khái niệm về quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong giải quyết VADS, cần hiểu rõ nội hàm của khái niệm “Quyền” và khái niệm “Đương sự”. Xuất phát từ lợi ích của đương sự, pháp luật đã quy định các quyền tố tụng của đương sự. Theo Từ điển Tiếng Việt, quyền là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”1.

Trong khoa học pháp lý, quyền được dùng để chỉ “những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”2. Như vậy, có thể nói quyền là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của cá nhân, quyền là phạm trù trung tâm trong thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật và trong đời sống xã hội. Quyền được ghi nhận về pháp lý và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định pháp luật, đồng thời phải có sự thừa nhận trên phương diện xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định. Trong hệ thống các quyền tố tụng của đương sự, quyền thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu thể hiện rõ nét nhất nguyên tắc tự định đoạt - một trong những nguyên tắc cơ bản của TTDS.

Đây là nhóm quyền quan trọng cho phép đương sự chủ động trong việc tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng, từ việc khởi kiện ban đầu cho đến các giai đoạn tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 70 BLTTDS 2015, đương sự có quyền tự mình quyết định việc khởi kiện, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu mà không chịu sự can thiệp từ bất kỳ chủ thể nào. Các quyền này được 1 Hoàng Phê (chủ biên), 2003, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, tr. 2 Đào Duy Anh (2008), Từ điển Hán Việt, Nxb.

Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr. 7 xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa nguyên tắc tự do ý chí trong các quan hệ pháp luật nội dung (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động).TS Phạm Hữu Nghị đã nhận xét “Quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là sự phản ánh của quyền tự định đoạt của chủ thể trong mối quan hệ dân sự”3 * Khái niệm “Đương sự” Theo Đại Từ điển tiếng Việt, "đương sự là người, là đối tượng trong một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết"4. Trong cuốn Từ điển Luật học được xuất bản năm 1999 thì "đương sự là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một khiếu nại hoặc một vụ án"5. Theo cuốn Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thì đương sự được hiểu là: Cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động6. Dưới góc độ pháp lý, “đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia TTDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự”7. Đương sự là một trong những người tham gia TTDS tại tòa án trong các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật. Những người tham gia TTDS đó bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, viện kiểm sát, người làm chứng, người phiên dịch.

Trong trường hợp một người bị thiệt hại do lỗi của một người khác, luật cho phép người bị thiệt hại yêu cầu sự can thiệp của quyền lực công cộng để khôi phục các quyền của mình. Đại diện cho quyền lực công cộng trong việc giải quyết những bất đồng giữa các chủ thể của quan hệ pháp luật là Tòa án. Theo đó, tranh chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếu 3 Nguyễn Triều Dương (2010), Đương sự trong TTDS - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, tr. 4 Viện ngôn ngữ học (2008), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Thống Kê, Trang 346.

5 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, Trang 165. 6 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp, Trang 278 7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 8 không có yêu cầu khởi kiện của các bên8. Trong TTDS, khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS và là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS9.

Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức chính là sự bảo đảm của nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận. Kể từ thời điểm Tòa án thu lý vụ việc dân sự sẽ phát sinh quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quá trình TTDS và các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, nghĩa vụ liên quan dân việc giải quyết vụ việc dân sự trở thành những người tham gia TTDS và được gọi là đương sự. Vì vậy, đây là nhóm chủ thể có địa vị vô cùng quan trọng bởi nếu không có sự tham gia của nhóm chủ thể này thì cũng không xuất hiện quan hệ pháp luật TTDS. BLTTDS năm 2015 quy định tại khoản 1 Điều 68 "Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan".

Đương sự là cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch. Đương sự là cơ quan bao gồm các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân. Cơ quan tham gia vụ án dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Thông thường một cơ quan gồm nhiều bộ phận cấu thành, về nguyên tắc nếu những bộ phận cấu thành này không có quyền độc lập về tài sản thì các bộ phận này không thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự.

Tuy nhiên, đối với những bộ phận trong cơ quan nhưng lại có quyền độc lập về tài sản, có quyền tham gia các quan hệ dân sự với tư cách độc lập thì bộ phận này có thể có quyền tham gia TTDS độc lập. Bên cạnh đó, theo quy định của BLTTDS thì đương sự trong VADS còn là tổ chức. Từ điển tiếng Việt giải thích "tổ chức là tập hợp người có trật tự, có nề nếp, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm mục đích chung". Tổ chức có thể là pháp nhân hoặc không phải pháp nhân.

Pháp nhân là tổ chức thỏa mãn bốn điều kiện quy định tại Điều 74 BLDS năm 2015. Theo quy định tại Điều 75 và Điều 76 BLDS năm 2015, pháp nhân bao gồm pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại.Johnsitz (2000), Cambridge Studies in International and Comparative law, On Civil Procedure ,pp 70. 9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.

9 Nguyên đơn trong VADS là người tham gia tố tụng khởi kiện VADS bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực phụ trách hoặc được người khác khởi kiện VADS yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tuy cũng tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình như các đương sự khác nhưng việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn các đương sự khác. Nguyên đơn là người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án nhưng đồng thời là người đã khởi kiện hoặc được người khác khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích của họ. Trong TTDS, hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tụng10.

Bị đơn trong VADS là người tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do bị nguyên đơn hoặc bị người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật. Việc tham gia vào VADS của bị đơn mang tính bị động chứ không chủ động như nguyên đơn. Do bị nguyên đơn hoặc người đại diện của họ khởi kiện nên bị đơn buộc phải tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện. Tuy nhiên, hoạt động TTDS của bị đơn cũng có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt nội dung giải quyết VADS của Tòa án11.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong VADS là người tham gia tố tụng khi họ có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích cho mình hoặc họ tham gia tố tụng theo yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền đưa ra yêu cầu của mình, kể cả là yêu cầu đó chống lại cả nguyên đơn và bị đơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ