Chương I CO SO LY LUAN VE QUYEN TAC GIA DOI VOI TAC PHAM SAN KHAU 1. QUYỀN TAC GIA VA QUYỀN LIEN QUAN ĐẾN QUYỀN TAC GIA 1. Quyền tác gia Tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là kết quả của quá trình suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu, tư duy của người sáng tạo, luôn gắn liền với bản thân tác gia, thể hiện dấu ấn riêng về trí tuệ, tài nang, phong cách của tác giả. góp phần nâng cao nhận thức, tư tưởng của con người, giúp con người có những khám phá và hiểu biết mới về văn hóa, khoa hoc, nghệ thuật.
Do đó, cần xây dựng pháp luật dé bảo vệ quyền của những người sáng tạo tác phẩm nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo của con người. Quyền tác giả trên thế giới được hình thành cùng với sự phát triển của công nghệ in ấn vào thé kỷ XV. Trước khi con người phát minh ra máy in cơ khí, các quyển sách thường được sao chép bằng tay, vì thế việc sao chép lại các tác phẩm gốc chỉ có thể làm với số lượng không đáng kể. Khi công nghệ in ra đời, việc nhân ban các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đã trở nên dé dàng hơn rất nhiều.
Tác giả, chủ nhà in khó có khả năng kiểm soát. quan lý số lượng các bản in tác phẩm đang được lưu hành. bởi trong đó có nhiều bản được sản xuất từ những nhà in lậu. Vì vậy, các tác gia và các nhà in đã kiến nghị Nhà nước bảo hộ quyền được ¡n ấn và quản lý việc xuất bản.
Nước đầu tiên ban hành luật về quyền tác giả là Vương quốc Anh, nơi khởi đầu cuộc cách mạng công nghiệp, sau đó là Mỹ (năm 1770) và Pháp (năm 1791). Trên thế giới hiện nay, mặc dù pháp luật về quyền tác giả của các nước đều bao gồm các quy định về đối tượng bảo hộ. các quyền của tác giả. chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm, thời hạn bảo hộ.
giới hạn quyền. Tuy nhiên, có nước ding thuật ngữ “quyền tác giả” (Author’s right). trong đó tiêu biểu là Pháp. Một số nước khác như Anh, Mỹ lại sử dụng thuật ngữ “ban quyền” (copyright).
Việc sử dụng thuật ngữ “quyền tác gia” và thuật ngữ “ban quyền” có sự khác nhau co bản về cơ sở hình thành. gan liên với sự khác nhau giữa hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law) và hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common law). Các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ sử dụng thuật ngữ “bản quyền” xuất phát từ khía cạnh thương mại. nhấn mạnh đến quyền sao chép, nhân bản tác phẩm, tức là chú trọng đến giá trị kinh tế của tác phẩm mà không phải là nhân thân tác giả.
Còn các nước thuộc hệ thống luật Châu Au lục địa sử dụng thuật ngữ “quyền tác giả” xuất phát từ quan điểm gắn chặt mối quan hệ giữa tác giả với tác phẩm. chú trọng đến việc bao hộ quyền của người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm. đặc biệt là các quyền tỉnh thần (quyền nhân thân). Xuất phát từ các góc độ khác nhau, quyền tác giả có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Về mặt lý luận, quyền tác giả là các quyền tài sản (còn gọi là quyền kinh tế) và quyền nhân thân (còn gọi là quyền tỉnh thần) của tác giả với tư cách là người sáng tạo ra toàn bộ hay một phần tác phẩm văn học. nghệ thuật, khoa học. Việc tác giả sáng tạo tác phẩm văn học nghệ thuật đã làm xuất hiện quyền của tác giả đối với tác phẩm của mình (author’s right). Khái niệm quyền tác giả được dùng để đề cập đến chính các quyền của tác giả - người đã sáng tạo ra tác phẩm.
Ở phương diện này, quyền tác giả bao gồm quyền tài sản (còn gọi là quyền kinh tế) và quyền nhân thân (còn gọi là quyền tinh thần). Quyền tài sản là các quyền của tác giả được hưởng các lợi ích về mặt vật chất từ việc khai thác tác phẩm của mình. Trong khi đó, quyền nhân thân là các quyền của tác giả nhằm đảm bảo mối liên hệ giữa tác giả và tác phẩm của mình. Các quyền này đem lại cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả những lợi ích vat chất và tinh than tương xứng với trí tuệ.
công sức lao động và tài sản mà họ đã bỏ ra để sáng tạo tác phẩm. thông qua việc cho phép họ được độc IC qd quyền khai thác và sử dung INg tác phẩm của mình. chốngg lai le việc : sao chép. pho biến nội dung tác pham bat hợp pháp.
Về mặt pháp lý. quyền tác giả là quyền của cá nhân. tổ chức đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (Điều 4 khoản 2 Luật SHTT). quyền tác gia là tổng hợp các quy phạm pháp luật xác nhận và bảo hộ các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật.
Hiểu theo phương diện này thì quyền tác gid không chỉ là quyền dành cho bản thân tác giả sáng tao tác phẩm mà còn mở rộng các vấn đề khác như đối tượng bảo hộ, giới hạn quyền tác giả, vấn đề thừa kế quyền tác giả. chuyển giao tác phẩm, quyền liên quan đến quyền tác giả. Quyền liên quan đến quyền tác gia Quyền liên quan đến quyền tác giả, còn được gọi là quyền kề cận, là một quyền liên quan mật thiết đến quyền tác giả. Sở đĩ được gọi là quyền liên quan vì chúng bổ sung và tồn tại song song với quyền tác giả, giúp tác giả thể hiện nội dung tác phẩm.
Nói cách khác, đó là quyền của những người trung gian làm cầu nối giữa tác giả. tác phẩm và công chúng. Luật SHTT không có định nghĩa trực tiếp về quyền liên quan đến quyền tác giả, mà chỉ có khái niệm gián tiếp mang tính liệt kê: quyền liên quan là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá (Điều 4 khoản 3 Luật SHTT). người biểu điễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm.
ghi hình, tổ chức phát sóng được gọi là các chủ thể liên quan. Tuy là những người sử dụng tác phẩm của tác giả, song họ là ` những người sử dụng đặc biệt. Họ đã đóng vai trò rất lớn giúp cho tác giả truyền đạt được tác phẩm của mình đến công chúng. Các sản phẩm họ làm ra cũng có thể bị sử dụng bất hợp pháp.
Vì vậy, bên cạnh các quy định về quyền tác IQ giả, cần thiết phải có quy định về quyền liên. Quyền liên quan là tông hợp các quy phạm pháp luật xác nhận va bảo Ụ vệ quyền nhân thân, quyền tài sản của người biểu điển. chủ sở hữu cuộc biểu diễn. nhà sản xuất bản ghi am, ghi hình.
tổ chức phát sóng đối với các chương trình được thực hiện dựa trên tác phẩm gốc của tác giá. Vì vậy, có thể nói, quyền liên quan được hình thành dựa trên việc sử dụng tác phẩm gốc. chủ thé quyền liên quan có nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác gia. Việc công nhận và bao hộ quyền liên quan không được làm ảnh hưởng đến quyền tác giả đối với tác phẩm.
QUYỀN TÁC GIA ĐỐI VỚI TÁC PHAM SÂN KHẨU 1. Khái niệm tác phẩm sân khấu Mỗi khi nói đến nền sân khấu Việt Nam, chúng ta đều cảm thay tự hào vì đã có một nền sân khấu khá lâu đời. Lich sử của sân khấu Việt Nam không bang nền san khấu Ấn Độ và Trung Quốc — là hai nền sân khấu đã hình thành từ những ngày đầu công nguyên và có tầm ảnh hưởng khá lớn đối với toàn Châu Á, nhưng sân khấu Việt Nam cũng đã ra đời vào loại sớm, khoảng thế ky thứ 13 [30,Tr5]. Ngoài truyền thống lâu đời, sân khấu Việt Nam còn là một sân khấu đa dạng và phong phú với nhiều bộ môn, thích ứng với những đặc sắc của từng miền đất cũng như những nhu cầu khác nhau của các giai tầng xã hội.
Tác phẩm sân khấu là tác phẩm văn học, nghệ thuật. Đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học là tác phẩm được thể hiện bằng ngôn ngữ (từ ngữ hoặc ký hiệu). Thông qua việc thể hiện từ ngữ, người đọc, người nghe được truyền tải một nội dung tư tưởng hoặc tình cảm nhất định. Còn đặc trưng cơ bản của tác phẩm nghệ thuật là được thể hiện bằng hình tượng, đường nét, hình khối, màu sắc, âm thanh, giai điệu, dáng điệu, động tác.
Tác phẩm sân khấu hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các loại hình nghệ thuật được trình diễn trên sân khấu. Còn theo thông lệ quốc tế thì tác phẩm san khấu chi bao gồm kịch, gềm cả hoạt cảnh. kịch cam; và nhạc kịch (Công ước Berne). Tuy nhiên, Công ước cũng có quy định không hạn chế việc các gia bo sung thêm các loại hình tác phẩm vào đối tượng bảo hộ của pháp luật quốc gia.
Luật Bản quyền Hoa Kỳ quy định bảo hộ tác phẩm san khấu bao hàm các tác phẩm kèm theo bất kỳ âm thanh nao, nhưng lại tách tác phẩm kịch câm và vũ balê với tác phẩm sân khấu (điều 102.3), Luật Bản quyền Nhật Bản liệt kê tác phẩm kịch, tác phẩm múa và kịch câm (điều 10.11), Luật Ban quyền Trung Quốc liệt kê tác phẩm truyền miệng, tác phẩm kịch, mua, xiéc, tác phẩm nghệ thuật truyền thống như truyện. hài kịch, điệu hát. Còn theo phạm vi hoạt động của Viện sân khấu quốc tế thì lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn gồm kịch. khiêu vũ và âm nhạc sân khấu.
Khái niệm về tác phẩm sân khấu chưa được quy định trực tiếp trong pháp luật Việt Nam, mà mới chỉ đưa ra quy định mang tính chất liệt kê về tác phẩm sân khấu. Tại Điều I3 Nghị định 100 quy định: “Tác phẩm sản khấu là tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật biểu điển. bao gdm kịch (kịch nói. nhac vũ kịch, ca kịch, kịch cam), xiéc, múa, múa rối và các loại hình tác phẩm sân khấu khác”.
Các loại hình sân khâu Theo quy định tại Điều 13 Luật SHTT, tác phẩm sân khấu là tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm: kịch (kịch nói. nhạc vũ kịch, ca kịch, kịch câm), xiếc, múa, múa rối và các loại hình nghệ thuật tác phẩm sân khấu khác. - Kịch: là loại hình nghệ thuật dùng sân khấu trình bày hành động và đối thoại của các nhân vật dé phan ánh những xung dot trong đời sống xã hội.