Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, việc xác định đúng và đầy đủ tư cách của các đương sự là tiền đề bảo đảm cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự diễn ra khách quan, chính xác và đúng pháp luật. Ngày 25/11/2015, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS năm 2015), hoàn thiện khung pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (QLNVLQ). Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại các Tòa án nhân dân cho thấy việc áp dụng các quy định đối với người có QLNVLQ vẫn còn nhiều bất cập. Ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng, Tòa án vẫn xảy ra tình trạng xác định không đúng thành phần, tư cách tham gia của người có QLNVLQ hoặc bỏ sót đương sự. Bên cạnh đó, một số quy định hiện hành còn thiếu cụ thể, thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện, trong khi bản thân người có QLNVLQ có hiện tượng thiếu hợp tác hoặc cố tình vắng mặt, dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài hoặc bản án bị cấp phúc thẩm tuyên hủy. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả Vũ Tiến Dũng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự".
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự (khái niệm, đặc điểm, vai trò, cơ sở xác lập quy định và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia tố tụng).
- Phân tích một cách hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về tư cách pháp lý, quyền và nghĩa vụ (chung, độc lập, không độc lập), kế thừa quyền - nghĩa vụ và năng lực chủ thể của người có QLNVLQ.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về người có QLNVLQ tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh (giai đoạn 2019–2022), chỉ ra những kết quả đạt được, các vướng mắc, bất cập và nguyên nhân.
- Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định của BLTTDS năm 2015 và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự.
- Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi thời gian: Số liệu tổng kết công tác xét xử được thu thập trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022 cùng các bản án dân sự sơ thẩm điển hình năm 2018 và 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định, tài liệu giảng dạy học thuật và các công trình khoa học chuyên khảo:
- Văn bản pháp luật: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 ngày 07/12/1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ.
- Tài liệu học thuật và nghiên cứu so sánh: Giáo trình Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2021); Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (Trường Đại học Luật Hà Nội, 1999); các quy định pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài như BLTTDS Pháp năm 2004 (Điều 1, Điều 323), BLTTDS Liên bang Nga năm 2004 (Điều 43 về người thứ ba) và mô hình tố tụng đối tụng của Hoa Kỳ; các công trình nghiên cứu của TS. Nguyễn Triều Dương (2010), ThS. Lâm Đức Mạnh (2022), ThS. Trần Thị Diệu Linh (2017), ThS. Tạ Thị Minh Thành (2023), tác giả Nguyễn Minh Hằng và Lê Anh Tú (2022), Hoàng Quang Lực (2021), Trần Thắng Long và Danh Nguyễn Thúy Quyên (2021), PGS. Trần Anh Tuấn (2009).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng gồm:
- Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại, đối chiếu các số liệu xét xử thực tế về tình hình thụ lý, giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh từ năm 2019 đến năm 2022.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đi sâu phân tích các điều luật thực định trong BLTTDS năm 2015 và mổ xẻ các vụ án cụ thể để làm rõ sự tương thích giữa quy định pháp luật và thực tiễn thi hành.
Nguồn dữ liệu thực tế được trích xuất từ Báo cáo tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh (giai đoạn 2019–2022), Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2018/HNGĐ-ST ngày 14/05/2018 và Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS-ST ngày 30/09/2021 của TAND thành phố Bắc Ninh (kèm biên bản làm việc của TAND tỉnh Hà Tĩnh ngày 07/07/2022).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm và nền tảng lý luận về người có QLNVLQ:
- Khái niệm và đặc điểm: Người có QLNVLQ trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa vào tham gia tố tụng; hoặc Tòa án chủ động đưa họ vào tham gia tố tụng để bảo đảm giải quyết triệt để vụ án. Người có QLNVLQ có 3 đặc điểm cơ bản: (1) Không phải là người khởi kiện và không phải là người bị kiện; (2) Thời điểm xuất hiện trong tố tụng là sau khi quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn đã hình thành; (3) Có thể bảo vệ quyền lợi bằng yêu cầu độc lập hoặc tham gia phụ thuộc vào nguyên đơn/bị đơn.
- Vai trò tố tụng: Đối với Tòa án, sự tham gia của người có QLNVLQ giúp việc thu thập chứng cứ, đánh giá sự thật khách quan được toàn diện và tránh việc giải quyết thiếu sót. Đối với các đương sự khác, sự có mặt của chủ thể này hỗ trợ làm rõ quyền lợi hoặc san sẻ, bù trừ nghĩa vụ tài sản tương ứng.
- Cơ sở xây dựng quy định và yếu tố ảnh hưởng: Quy định về người có QLNVLQ được xây dựng dựa trên: việc xác định chủ thể có liên quan đến quan hệ tranh chấp nội dung; quyền tự định đoạt trong quan hệ dân sự; mối quan hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng về năng lực chủ thể. Các yếu tố chi phối việc tham gia tố tụng của người có QLNVLQ gồm: sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật; trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành của đương sự; và năng lực, tinh thần trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự
Chương 2 phân tích chi tiết các điều khoản của BLTTDS năm 2015 điều chỉnh tư cách của người có QLNVLQ:
- Quyền và nghĩa vụ chung: Người có QLNVLQ có quyền tự do thỏa thuận theo khoản 2 Điều 5 và Điều 10; quyền yêu cầu áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 111 (thời hạn Thẩm phán giải quyết là 03 ngày làm việc hoặc 48 giờ đối với yêu cầu tại phiên tòa); quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm theo Điều 271 và Điều 273 (15 ngày đối với bản án, 07 ngày đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ); nghĩa vụ chứng minh và giao nộp chứng cứ theo Điều 70, Điều 91 và Điều 106.
- Người có QLNVLQ tham gia tố tụng độc lập: Có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (khoản 2 Điều 201). Khi yêu cầu độc lập được chấp nhận, họ có các quyền và nghĩa vụ tương đương nguyên đơn theo Điều 71. Việc sửa đổi, bổ sung yêu cầu độc lập tại phiên tòa không được vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu (Điều 244 và Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC). Việc rút yêu cầu độc lập được xử lý căn cứ khoản 2 Điều 217 hoặc khoản 2 Điều 244 BLTTDS năm 2015.
- Người có QLNVLQ tham gia tố tụng không độc lập: Tham gia phụ thuộc vào bên nguyên đơn hoặc bị đơn (khoản 3 và khoản 4 Điều 73). Quyền và nghĩa vụ bị giới hạn theo vị trí mà họ đứng về (Điều 71 hoặc Điều 72) và không có quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu phản tố độc lập.
- Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng (Điều 74): Nếu cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ là quyền nhân thân thì chấm dứt giải quyết; nếu là quyền, nghĩa vụ tài sản thì chuyển giao cho người thừa kế (Tòa án tạm đình chỉ theo điểm a khoản 1 Điều 214 để chờ xác định người thừa kế và phục hồi theo Điều 216). Đối với cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động, giải thể hoặc chia tách, sáp nhập thì quyền, nghĩa vụ chuyển giao cho thành viên công ty, tổ chức cấp trên trực tiếp hoặc tổ chức tiếp nhận.
- Năng lực chủ thể tố tụng dân sự: Năng lực pháp luật TTDS (khoản 1 Điều 69) là bình đẳng đối với mọi cá nhân, tổ chức từ khi sinh ra/thành lập đến khi chết/chấm dứt. Năng lực hành vi TTDS (khoản 2 Điều 69) đòi hỏi cá nhân phải từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; nếu không đủ điều kiện thì phải thực hiện quyền, nghĩa vụ thông qua người đại diện hợp pháp.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Chương này đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại địa phương, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp:
- Thực tiễn tại TAND thành phố Bắc Ninh: Tòa án đã thực hiện niêm yết công khai các mẫu đơn, hướng dẫn đương sự thực hiện quyền tố tụng, nỗ lực triệu tập đầy đủ các bên để tránh bỏ sót. Số liệu thụ lý và giải quyết vụ án dân sự chung giai đoạn 2019–2022 phản ánh xu hướng số lượng án cần giải quyết tăng mạnh, đồng thời tỷ lệ hòa giải thành cũng gia tăng qua các năm.
- Những vướng mắc, bất cập và các vụ án điển hình:
- Bất cập quy định về quyền, nghĩa vụ: Quy định tại Điều 73 BLTTDS năm 2015 cho rằng người có QLNVLQ có quyền, nghĩa vụ như nguyên đơn hoặc bị đơn là chưa hợp lý, bởi họ không có các quyền năng đặc thù như nộp đơn khởi kiện ban đầu, thay đổi toàn bộ nội dung khởi kiện hay đưa ra yêu cầu phản tố.
- Tình trạng cố tình vắng mặt, cản trở tố tụng: Điển hình qua Bản án số 28/2018/HNGĐ-ST ngày 14/05/2018 về tranh chấp tài sản sau ly hôn giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn C và bị đơn bà Lê Thị D (thửa đất số 290, tờ bản đồ số 5, diện tích 194,9 m² tại phường V, thành phố Bắc Ninh). Các cá nhân có QLNVLQ gồm chị Nguyễn Thị Thùy L, chị Nguyễn Thủy G và chị Nguyễn Thị Thanh T từ chối ký biên bản lấy lời khai, không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và phiên tòa, buộc Tòa án phải lập biên bản niêm yết và xét xử vắng mặt.
- Tòa án bỏ sót người tham gia tố tụng: Điển hình qua Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS-ST ngày 30/09/2021 về chia thừa kế quyền sử dụng đất (thửa đất số 199, diện tích 528 m², nay là thửa 67 diện tích 562,5 m² tại xã L, thành phố Bắc Ninh) giữa nguyên đơn ông Hồ Đình T và bị đơn ông Hồ Văn Đ. Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ sót toàn bộ hàng thừa kế của người vợ khác của cụ Hồ Đình P là cụ Cù Thị M (các đồng thừa kế thế vị gồm con của bà Hồ Thị L và con của ông Hồ Xuân D), đồng thời không đưa bà Lê Thị N (vợ ông Đ, người đã sinh sống hơn 30 năm và tạo lập công trình trên đất) vào tham gia tố tụng với tư cách người có QLNVLQ. Do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng này, ngày 29/07/2022, Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
- Nguyên nhân: Điều 73 BLTTDS năm 2015 chưa quy định chi tiết quyền, nghĩa vụ và trình tự tham gia riêng cho người có QLNVLQ không có yêu cầu độc lập; Điều 7 chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý việc chậm cung cấp chứng cứ theo Luật Xử lý vi phạm hành chính; năng lực hành vi TTDS bị đồng nhất cơ học với năng lực hành vi dân sự; trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ Tòa án còn hạn chế.
Kết quả và đóng góp
1. Số liệu thực tiễn tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh
Khóa luận đã tổng hợp số liệu công tác thụ lý, xét xử và giải quyết các vụ án dân sự nói chung tại TAND thành phố Bắc Ninh trong giai đoạn 4 năm (2019–2022) như sau:
| Chỉ tiêu công tác |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
| Số vụ án cần giải quyết |
182 |
151 |
167 |
231 |
| Đã xét xử |
112 |
84 |
89 |
160 |
| Đình chỉ |
48 |
33 |
37 |
31 |
| Hòa giải thành |
19 |
23 |
30 |
40 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh từ năm 2019 đến năm 2022)
Số liệu cho thấy số lượng vụ án thụ lý năm 2022 tăng cao (231 vụ) do sự gia tăng cơ học về dân số và người lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Số lượng vụ việc hòa giải thành tăng dần từ 19 vụ (năm 2019) lên 40 vụ (năm 2022), cho thấy vai trò của việc tạo điều kiện cho các bên đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp.
2. Các kiến nghị và giải pháp của tác giả
- Hoàn thiện pháp luật:
- Sửa đổi, bổ sung Điều 73 BLTTDS năm 2015 nhằm phân định rành mạch quyền, nghĩa vụ tố tụng của người có QLNVLQ không có yêu cầu độc lập, không quy định đồng nhất với quyền của nguyên đơn hay bị đơn.
- Bổ sung quy định về cơ chế xét xử và chế tài xử lý nghiêm khắc đối với trường hợp người có QLNVLQ cố tình vắng mặt, từ chối nhận văn bản tố tụng nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
- Hoàn thiện quy định tại Điều 7 BLTTDS năm 2015 và pháp luật xử lý vi phạm hành chính để bắt buộc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng thời hạn, tránh tình trạng vụ án bị tạm đình chỉ kéo dài.
- Xây dựng quy định về năng lực hành vi tố tụng dân sự mang tính độc lập tương đối, phù hợp với đặc thù quan hệ tố tụng thay vì lệ thuộc hoàn toàn vào năng lực hành vi dân sự.
- Giải pháp bảo đảm thực hiện: Nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng xác minh đương sự cho Thẩm phán và Thư ký Tòa án; tăng cường vai trò kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013 nhằm phát hiện sớm việc bỏ sót người tham gia tố tụng ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử.
3. Đóng góp của đề tài
Tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và quy định pháp luật thực định về người có QLNVLQ dưới góc độ BLTTDS năm 2015, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn thực tiễn thông qua việc mổ xẻ trực tiếp 2 bản án thực tế tại địa phương (vụ án chia tài sản sau ly hôn và vụ án chia thừa kế bị hủy do bỏ sót đương sự), tạo nguồn tư liệu phục vụ hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do hệ thống sổ sách lưu trữ thống kê tại Tòa án cấp cơ sở chưa phân tách thành danh mục riêng đối với các vụ án dân sự có sự tham gia của người có QLNVLQ, tác giả chỉ có thể sử dụng bảng số liệu án dân sự tổng thể và tiếp cận các vụ việc cụ thể qua hồ sơ thực tế trong thời gian thực tập. Ngoài ra, phạm vi khảo sát thực tiễn mới chỉ giới hạn trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn sang nhiều địa phương khác nhau và các cấp Tòa án phúc thẩm, giám đốc thẩm; nghiên cứu sâu hơn về thủ tục tố tụng đối với yêu cầu độc lập của người có QLNVLQ trong các loại tranh chấp chuyên biệt như kinh doanh thương mại, tranh chấp quyền sử dụng đất phức tạp hoặc tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Người học và nghiên cứu pháp luật: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tố tụng Dân sự, Luật Dân sự có thể tham khảo phần luận giải chi tiết về sự khác biệt giữa người có QLNVLQ tham gia tố tụng độc lập và không độc lập tại Chương 2.
- Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư): Bản phân tích sai lầm trong việc bỏ sót người có quyền lợi liên quan tại Bản án sơ thẩm số 06/2021/DS-ST (dẫn đến việc bản án bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy) ở Chương 3 là tư liệu thực tế quan trọng nhằm rút kinh nghiệm trong công tác xác minh đương sự và thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của BLTTDS năm 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập khác với người tham gia không độc lập ở những điểm nào?
Người có QLNVLQ tham gia độc lập đưa ra yêu cầu độc lập chống lại cả nguyên đơn và bị đơn, có tư cách độc lập và hưởng các quyền, nghĩa vụ như nguyên đơn theo Điều 71 (nếu được Tòa án chấp nhận thụ lý cùng vụ án). Ngược lại, người tham gia không độc lập có lợi ích pháp lý gắn liền với nguyên đơn hoặc bị đơn, quyền và nghĩa vụ của họ phụ thuộc vào bên mà họ đứng về (theo Điều 71 hoặc Điều 72) và không có quyền tự đưa ra yêu cầu khởi kiện độc lập.
2. Thời điểm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải đưa ra yêu cầu độc lập được pháp luật quy định như thế nào?
Theo khoản 2 Điều 201 BLTTDS năm 2015, người có QLNVLQ có yêu cầu độc lập có quyền đưa ra yêu cầu của mình trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phải đưa ra trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
3. Hậu quả pháp lý của việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp thừa kế tại thành phố Bắc Ninh (Bản án số 06/2021/DS-ST) là gì?
Do Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh không đưa các đồng thừa kế thế vị của cụ Cù Thị M và bà Lê Thị N (vợ bị đơn, sinh sống hơn 30 năm trên đất tranh chấp) vào tham gia tố tụng với tư cách người có QLNVLQ, Tòa án cấp phúc thẩm vào ngày 29/07/2022 đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung giải quyết vụ án.
4. Khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân chết trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự thì quyền và nghĩa vụ tố tụng được xử lý ra sao?
Theo Điều 74 BLTTDS năm 2015, nếu quyền và nghĩa vụ của người đó gắn liền với nhân thân thì không chuyển giao và Tòa án chấm dứt giải quyết phần việc đó. Nếu là quyền, nghĩa vụ về tài sản thì người thừa kế sẽ kế thừa tham gia tố tụng; trường hợp chưa xác định được người thừa kế trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 214 cho đến khi xác định được người thừa kế để tiếp tục giải quyết (Điều 216).
5. Tác giả chỉ ra điểm bất cập nào trong quy định tại Điều 73 BLTTDS năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan?
Điều 73 quy định người có QLNVLQ khi tham gia tố tụng cùng bên nguyên đơn hoặc bị đơn thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn (Điều 71) hoặc bị đơn (Điều 72). Tác giả chỉ rõ quy định này không phù hợp vì người có QLNVLQ không thể có các quyền năng đặc trưng tuyệt đối của nguyên đơn (như quyền nộp đơn khởi kiện ban đầu, thay đổi toàn bộ yêu cầu khởi kiện) hoặc của bị đơn (như quyền đưa ra yêu cầu phản tố).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Tiến Dũng đã nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và quy định của BLTTDS năm 2015 về chế định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự. Thông qua số liệu thống kê giai đoạn 2019–2022 và các bản án thực tiễn tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, công trình đã làm rõ các tồn tại điển hình như việc bỏ sót đương sự, sự thiếu hợp tác của đương sự và những điểm chưa tương thích trong quy định pháp luật thực định. Các kiến nghị sửa đổi Điều 73 BLTTDS năm 2015 cùng các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng được đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và hoạt động xét xử của Tòa án.