CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ 1. Khái quát chung về quyền im lặng trong tư pháp hình sự 1. Khái niệm quyền im lặng trong tư pháp hình sự 1. Khái niệm quyền im lặng Quyền im lặng luôn là một chủ đề thời sự nóng bỏng liên quan đến vấn đề nhân quyền, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Ngày nay, không ít những bình luận cho rằng quyền im lặng là điều trái với quy luật xã hội, làm tốn nhiều thời gian, công sức, tiền của, … Mặc dù vậy, vẫn có nhiều nhận xét cho rằng quyền im lặng là một trong những quyền con người cơ bản nhất. Xét dưới góc độ luật học, để hiểu về quyền im lặng trước hết cần hiểu về thuật ngữ im lặng và quyền im lặng. Im lặng là một hình thái ngôn ngữ cơ thể của mỗi người mà không phát ra bất kỳ một tiếng động hay âm thanh nào. Mỗi cá nhân thì có những suy nghĩ, cách trình bày hay đánh giá vấn đề khác nhau, họ có quyền nói hay không nói về ý kiến của mình.
Quyền im lặng hiểu theo cách thông thường là quyền giữ im lặng, quyền không nói bất cứ điều gì, không cung cấp thông tin hoặc trả lời câu hỏi. Quyền im lặng thì thường được sử dụng trong lĩnh sự tố tụng hình sự để bảo vệ cho người bị buộc tội. Theo đó thì người bị buộc tội có quyền nói ra những quan điểm, đưa ra lời khai, ý kiến hoặc có quyền giữ im lặng trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn kiện quốc tế về quyền con người trong tư pháp hình sự như: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985…Quyền con người trong tư pháp hình sự chính là quyền được sống, quyền được tự do trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong tố tụng hình sự. 9 Quyền im lặng thì được coi như là một quyền con người cơ bản được ghi nhận thông qua Tuyên ngôn nhân quyền 1948 (UDHR) tại khoản 1 điều 111 và Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 (ICCPR) tại khoản 2 điều 112, cụ thể là bị cáo về tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội nếu có đủ chứng cứ từ CQĐT và nhân chứng. Trong các vụ án hình sự thì mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng với những điều kiện tối thiểu: Có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn, không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội. Từ việc quyền im lặng đã được đề cao thì đã phần nào bảo vệ được quyền con người nói chung và trong hoạt động tư pháp hình sự nói riêng.
Điều này đã thể hiện một cách khá rõ ràng khi các quốc gia đã vận dụng linh hoạt vào từng điều kiện cụ thể mỗi quốc gia để có thể phù hợp và nội luật hóa, đồng bộ với pháp luật trong nước. “Quyền con người” hay “Nhân quyền”, được định nghĩa khái quát là “những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người”3. Bên cạnh đó, Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc cho rằng: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người”4. Như vậy, có thể hiểu, nhân quyền hay quyền con người đều là những đặc quyền tự nhiên, thiêng liêng vốn có của con người, không ai được phép xâm phạm đến quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của người khác.
Ở Việt Nam thì quyền im lặng không thể hiện một cách trực tiếp mà nó đã được vận dụng một cách gián tiếp, linh hoạt để phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đang trong quá trình hoàn thiện pháp luật trong thời kỳ hội nhập, mở cửa và giao lưu với 1 Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948. 2 Điều 11 Công ước Liên Hợp Quốc về các quyền dân sự và chính trị 1966. 3 United Nations, Human Rights: Questions and Answer, New York and Geneva, 2006. 4 Hỏi đáp về Quyền con người – nhóm tác giả Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội biên soạn, Nxb CAND Quý 1/2010.
10 bạn bè quốc tế. Chính vì thế mà trong Hiến pháp hiện hành 2013 tiếp tục khẳng định “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”5. Quyền này thì đã được cụ thể hóa thông qua một cách gián tiếp một số điều ở Bộ luật tố tụng hình sự 2015 là nguyên tắc suy đoán vô tội6 và nguyên tắc xác định sự thật của vụ án7. Bên cạnh đó thì người bị buộc tội có quyền trình bày lời khai, ý kiến của mình, không buộc phải đưa ra lời khai hoặc ý kiến để chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
Trong TTHS, người bị buộc tội là người mà cơ quan THTT coi là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Họ là những người bị tình nghi là tội phạm, có thể đó là người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong quá trình TTHS. BLTTHS 2015 đã giải thích khái niệm người bị buộc tội, trong phần giải thích từ ngữ tại điểm đ khoản 1 Điều 4: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Tuy nhiên, quy định này vẫn chỉ mang tính liệt kê các chủ thể bị buộc tội được xác lập địa vị pháp lý theo từng giai đoạn tố tụng khác nhau.
Trong TTHS ở nhiều nước, quyền im lặng được coi “là sự phòng vệ rất tự nhiên” của người bị buộc tội trước sự cáo buộc và nghi ngờ của cơ quan có thẩm quyền8. Pháp luật trao quyền cho người bị buộc tội khi “tự thấy chưa đủ điều kiện về nhiều mặt như: kiến thức pháp luật, thể chất, tinh thần; họ cần thời gian để bình tĩnh suy nghĩ, cân nhắc cần có thời gian trợ giúp về mặt pháp lý để tránh tình trạng tự đưa mình vào thế bất lợi, tự buộc tội chính mình”9. Theo đó, người bị buộc tội có quyền nói hoặc giữ im lặng trong giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử. 5 Điều 31 Hiến pháp Việt Nam 2013.
6 Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. 7 Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. 8 Võ Văn Tài, Trịnh Tuấn Anh (2015), Một số vấn đề lý luận về quyền im lặng trong TTHS, Tạp chí phát triển KH&CN, tập 19, quyển 3, 2016, tr.vn/thoi-su-trong-nuoc/thuc-hien-quyen-im-lang-de-giam-oan-sai- htm, Ngày truy cập: 01/10/2021 11 Như vậy, quyền im lặng không phải là không nói bất kỳ điều gì, mà là quyền không phải khai báo những điều bất lợi cho bản thân, quyền không thừa nhận hay nhận tội. Đây là quyền cơ bản của con người, được sử dụng một cách tự nhiên để tự vệ khi ở vào hoàn cảnh đang bị bắt, tạm giam, bị can hay là bị cáo.
Từ những phân tích và lập luận trên, ta có thể thấy rằng quyền im lặng là một quyền con người cơ bản được các văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận và bảo vệ, được xây dựng dựa trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị buộc tội trong hoạt động tư pháp hình sự, họ có quyền được giữ im lặng, bảo lưu quan điểm và không phải khai báo hay đưa ra ý kiến bất lợi cho mình, họ có thể đợi đến khi có sự góp mặt của người bào chữa thì mới cần phải khai báo với cơ quan điều tra. Khái niệm tư pháp hình sự Trước hết, “Tư pháp” được hiểu theo nghĩa thông thường là việc xét xử, giải quyết các tranh chấp nảy sinh giữa các đối tượng trong xã hội. Khái niệm “tư pháp hình sự” dùng trong trường hợp này để chỉ các cơ quan tham gia vào hoạt động xét xử của Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và tố tụng hình sự nói riêng. Cụ thể, đó là các cơ quan phụ trách công tác điều tra, công tố, xét xử theo quy trình của luật định trong hoạt động tư pháp hình sự.
Từ đó, khái niệm “tư pháp hình sự” được hiểu theo nhiều nghĩa như sau: Theo nghĩa rộng, tư pháp hình sự là hoạt động xét xử, giải quyết các tranh chấp khi phát sinh các xung đột, vi phạm pháp luật trong hoạt động này. Vì vậy, việc thực hiện quyền tư pháp, tức là thay mặt Nhà nước đứng ra giải quyết những xung đột pháp lý, vi phạm pháp luật là của Tòa án, nhưng để đi đến kết quả cuối cùng không chỉ có sự góp mặt của phía bên Tòa án. Ngoài ra còn có rất nhiều cơ quan khác được phân công nhiệm vụ như: Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án, các cơ quan được giao nhiệm vụ tố tụng. Theo nghĩa hẹp, tư pháp hình sự thể hiện các quyền lực Nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động xét xử và giải quyết các mâu thuẫn tại các phiên tòa của Tòa án.
12 Các quyết định này để giải quyết các tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp các chủ thể của pháp luật. Do đó, chủ thể thực hiện quyền tư pháp chỉ là Tòa án và có chức năng chỉ là hoạt động tư pháp để xét xử. Nói tóm lại, quyền im lặng trong tư pháp hình sự là quyền con người cơ bản được pháp luật quốc tế và Hiến pháp quốc gia ghi nhận và bảo vệ. Nó đã được thể hiện một cách gián tiếp và thông qua trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bị buộc tội trong trường hợp này có quyền được xét xử công bằng, khách quan, đúng với quy định của pháp luật từ phía các cơ quan có nhiệm vụ điều tra và tố tụng, người bào chữa và các tình tiết liên quan đến vụ án.