Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền được lãng quên 1.1 Khái niệm quyền được lãng quên Lãng quên là một hiện tượng sinh lí học của con người thường được hiểu là không tái hiện được ký ức về một thời điểm nào đó. Lãng quên trong cuộc sống thường ngày là một hiện tượng thường thấy, dễ giải thích thế nhưng khi được gắn với một khái niệm khoa học pháp lý là quyền được lãng quên thì lại phức tạp hơn, nhất là khi quyền này còn khá mới mẻ trên thế giới. Dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước đã tìm hiểu ở trên, có thể thấy tinh thần của quyền được lãng quên được xây dựng dựa trên sự nhận thức của cá nhân về danh dự, nhân phẩm, tự do và kiểm soát thông tin của bản thân mình trên các không gian công cộng, không gian báo chí và không gian mạng1. Từ đó, các khái niệm của quyền được lãng quên dần được mở rộng trên thế giới từ quyền xóa dữ liệu2 đến quyền được lãng quên như hiện nay3.
Chính vì thế, khái niệm của quyền được lãng quên cũng được mở rộng và phù hợp với các vấn đề về thông tin, dữ liệu hiện nay hơn so với ý tưởng lúc sơ khai về quyền xóa dữ liệu còn hạn chế năm 20094. Tuy có nhiều nội dung tương đồng với các quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng quyền được lãng quên có nhiều sự phát triển, tiên tiến hơn mà đầu tiên nhận thấy qua khái niệm của quyền này trong nhận xét: “quyền được lãng quên về cơ bản đề cập đến quyền của cá nhân đối với các thông tin, dữ liệu của chính mình có khả năng dẫn đến hiểu nhầm, nhạy cảm, không còn liên quan hay đã hết hạn đăng tải lên không gian tin tức truyền thống, không gian mạng và các cơ sở lưu trữ, phát hành, nắm giữ thông tin đó 5”. Đầu tiên, quyền được lãng quên có thể mô tả dưới dạng quyền được xóa của chủ thể dữ liệu. Chủ sở hữu gốc của dữ liệu có quyền tự mình hoặc yêu cầu xóa đi những dữ liệu mà họ không còn lý do để giữ lại, hay việc giữ lại có khả năng gây hại đến chủ thể dữ liệu.
Thiệt hại này có thể đã xảy ra thực tế hoặc có bên thứ ba đe dọa gây hại, mà chủ thể dữ liệu có thể phán đoán được mức độ nguy hại của dữ liệu ở hiện tại và tương lai. Việc chủ thể tự mình xóa dữ liệu đơn giản như việc xóa đi bài đăng trên mạng xã hội mà không gặp sự cản trở của nhà điều hành, quản lí; tuy nhiên, đối với việc yêu cầu xóa, cần phải xem xét đến các yếu tố như sự ảnh hưởng đến các thông tin khác, vấn đề bảo mật và các điều kiện để được xóa thông tin. Việc yêu cầu xóa dữ liệu này chỉ được phát sinh trong một số trường hợp dữ liệu không cần thiết cho các mục đích mà chúng được thu thập hoặc 1 Franz Werro (2020), “The Right To Be Forgotten A Comparative Study of the Emergent Right’s Evolution and Application in Europe, the Americas, and Asia”, Springer Nature Switzerland, tr. 2 Trần Tuấn Cảnh (2022), “Quyền được lãng quên trên không gian mạng theo pháp luật Liên minh châu Âu và liên hệ với Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (08), tr.
3 Ngô Thị Minh Hương, Phạm Hải Chung (2019), “Quyền được lãng quên trong kỷ nguyên số: Thách thức của ứng dụng trí tuệ nhân tạo”, Hội thảo Trí tuệ nhân tạo và những vấn đề đặt ra với pháp luật và quyền con người, do Trường Đại học Luật Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 28/5/2019 tại Hà Nội, tr. 4 Mayer-Schönberger V (2009) Delete: the virtue of forgetting in a digital age. Princeton University Press, Princeton, tr. 5 Bạch Thị Nhã Nam (2021), “Xin hãy nhớ quyền được lãng quên”, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, [https://lsvn.vn/xin-hay-nho-quyen-duoc-lang-quen1625096919.
10 xử lý ban đầu. Chủ thể có quyền rút lại sự đồng ý chia sẻ dữ liệu từ trước đó, phản đối việc xử lý dữ liệu của bên thứ ba, ngoài ra họ còn có quyền yêu cầu xóa dữ liệu có thể được dùng vào việc bất hợp pháp hoặc dữ liệu phải bị xóa để tuân thủ nghĩa vụ pháp lý.6 Từ đó có thể nhận thấy quyền được lãng quên không phải một thứ quyền tuyệt đối. Không phải mọi trường hợp đều có thể xóa hay yêu cầu xóa nên quyền được lãng quên có thể can thiệp bằng các phương pháp khác để chủ thể dữ liệu có thể đưa ra lựa chọn phù hợp với tình hình, hoàn cảnh áp dụng. Chính vì thế, nhóm nghiên cứu tiếp cận quyền được lãng quên như quyền thay đổi, hủy niêm yết các thông tin, dữ liệu trên các nền tảng trực tuyến, đặc biệt là đối với các công cụ tìm kiếm.
Dữ liệu cá nhân sau khi được sử dụng như thông tin trên báo chí, hình ảnh, video được đề xuất trên mạng xã hội, công cụ tìm kiếm có thể được tìm thấy dễ dàng bằng việc tìm kiếm hay đề xuất của các trang mạng. Chủ thể dữ liệu sau khi đăng tải thông tin hoặc chấp thuận việc trao đổi thông tin với báo chí để hình ảnh, dữ liệu cá nhân của mình được công bố công khai có thể thay đổi, hủy đối với quyết định này bằng việc yêu cầu các công ty chủ quản xóa, ẩn đi danh sách tìm kiếm đối với các công ty điều hành công cụ tìm kiếm. Quyền này đến từ việc các công cụ tìm kiếm có trung tâm dữ liệu khác vị trí với người yêu cầu, đồng thời hằng ngày phải xử lí khối lượng dữ liệu khổng lồ dẫn đến việc xóa bỏ hoàn toàn dữ liệu khỏi hệ thống không khả thi hoặc tốn nhiều thời gian, chưa kể sự lan truyền của thông tin trên đa nền tảng có thể làm cho việc thực hiện xóa nhiều lần không thực hiện được. Chính vì vậy, quyền thay đổi, hủy niêm yết thông tin, dữ liệu cá nhân có thể khắc phục vấn đề trên.
Tương tự với việc các nhà mạng, trang web ẩn IP hay chặn tường lửa với các thông tin không phù hợp tại một số quốc gia, việc áp dụng quyền này có tính chất tương tự. Dữ liệu trên thực tế không bị xóa bỏ khỏi cơ sở dữ liệu mà chỉ bị ẩn đi, di chuyển đến nơi khác hoặc không thể truy cập bằng việc tìm kiếm thông thường (đương nhiên sẽ không được đề xuất đối với tìm kiếm tương tự). Hiện nay, đa số các hoạt động của cá nhân trên mạng xã hội đều để lại dấu vết (digital footprint) cùng với các dữ liệu về thông tin chứng minh thư, số điện thoại, hình ảnh,. hay các dữ liệu về sinh trắc (vân tay, mống mắt) mà họ vô tình hoặc đã đồng ý cung cấp.
Nhưng sau đó các dữ liệu này của họ có thể bị các cá nhân, cơ quan, tổ chức sử dụng gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về quyền lợi cũng như cuộc sống. Từ đó dẫn đến nhu cầu về quyền được yêu cầu thay đổi thông tin, dữ liệu truyền thống và trực tuyến. Với quyền này, người sẽ đảm bảo quyền được lãng quên khi sử dụng các dịch vụ, công cụ hay trang mạng trực tuyến hoặc các địa điểm sử dụng sinh trắc (như rút tiền ATM bằng vân tay, máy chấm công,. hoặc các giao dịch, giấy tờ có để lại thông tin căn cước công dân, số điện thoại, email bản cứng.
Chủ thể dữ liệu bằng cách yêu cầu phía công ty, cơ quan hay cá nhân chủ quản của các dịch vụ, nơi lưu trữ trên xóa hoàn toàn dữ liệu hoặc thay đổi một số thông tin để tránh phát sinh các mối lo ngại về vấn đề an toàn bảo mật. Dù có hay không về nguy cơ bất lợi với dữ liệu cá nhân ở hiện tại hay trong tương lai, họ đều có thể áp dụng quyền này mọi lúc nếu đủ điều kiện khởi phát quyền được lãng quên. 6 Điều 17 Quy định về Bảo vệ dữ liệu chung 2016/679 - GDPR của Liên Minh Châu Âu. 11 Quyền này cũng không bắt buộc các bên sử dụng dữ liệu phải thực hiện xóa hay chỉnh sửa ngay lập tức mà thông qua bước xác nhận yêu cầu và xem xét giải quyết theo các trình tự, thủ tục minh bạch.
Quyền yêu cầu được thay đổi thông tin, dữ liệu truyền thống và trực tuyến tạo cho chủ thể dữ liệu sự chủ động cần thiết với dữ liệu của mình mà không ảnh hưởng quá lớn đến hoạt động của bên xử lý dữ liệu khi nó chỉ dừng lại ở yêu cầu và tiếp nhận yêu cầu. Áp dụng quyền được lãng quên trong trường hợp này, người dùng có thể thực sự cảm thấy bị “quên lãng” bởi các bên sử dụng thông tin đã đăng kí hay rao bán thông tin cho các bên bảo hiểm, mô giới hoặc chủ thể dữ liệu muốn thôi không đăng ký thành viên tại một công ty cung ứng dịch vụ như làm đẹp, mỹ phẩm,.2 Đặc điểm của quyền được lãng quên Từ việc phân tích khái niệm về quyền được lãng quên và các nhóm quyền tương ứng với các tình huống áp dụng của các nước trên thế giới, cụ thể hơn là trong các nước Liên minh châu Âu. Nhóm nghiên cứu đã nhận thấy quyền được lãng quên có các đặc điểm như sau: Thứ nhất, chủ thể có quyền được yêu cầu lãng quên như xóa bản chất, nội dung, tính khách quan, độ chính xác, nguồn gốc, điều kiện của việc đăng tải cũng như cũng như nguy cơ về ảnh hưởng đối với người có liên quan. Quyền được lãng quên được mô tả dưới dạng quyền được xóa của chủ thể dữ liệu, các chủ thể này có quyền tự mình hoặc yêu cầu xóa đi những dữ liệu mà họ không có lý do gì để giữ lại.
Đặc điểm này được thể hiện rõ ngay trong chính khái niệm quyền được lãng quên theo quy định của Liên minh châu Âu: “Người thực hiện quyền được lãng quên của mình có thể yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân, miễn là không có bất kỳ lý do chính đáng nào để giữ nó” (Điều 17 Quy định 2016/679). Quyền được lãng quên có vai trò quan trọng và thứ yếu trong hệ thống các quyền cơ bản của con người. Pháp luật đương nhiên ghi nhận việc chủ sở hữu có toàn quyền đối với dữ liệu thông tin cá nhân của mình. Tuy nhiên cũng cần phải trong giới hạn nhất định, để đảm bảo cho sự công bằng giữa quyền được tiếp cận thông tin của công chúng với quyền được lãng quên đối với chủ sở hữu dữ liệu.
Dựa trên quyền và lợi ích hợp pháp của các bên mà nhu cầu được tiếp cận hay tự do thông tin thì việc yêu cầu xóa dữ liệu đó có được thực hiện hay không.