Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ 1. Khái niệm chung 1. Nguyên đơn Trong cuốn “Black’s Law Dictionnary”, nguyên đơn định nghĩa là “người đưa ra hành động; bên than phiền hoặc khởi kiện cá nhân và có tên trong hồ sơ” hay trong Từ điển Luật học của nhà xuất bản từ điển khoa học năm 2006, đã được xuất bản ở nước ta, “nguyên đơn là người khởi kiện hoặc người không khởi kiện trong những vụ án về dân sự hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích của người đó. Nguyên đơn có thể là cá nhân hoặc pháp nhân".
Khoản 2 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, các nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm". Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 68 thì nguyên đơn không chỉ là “người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm” mà còn là “Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”. 9 Ví dụ: Cơ quan bảo vệ tài nguyên môi trường khởi kiện doanh nghiệp vì doanh nghiệp này đã làm ô nhiễm môi trường.
Cơ quan bảo vệ tài nguyên môi trường khởi kiện không phải vì lợi ích của cơ quan họ mà là lợi ích xã hội đây là điểm khác giữa nguyên đơn là người khởi kiện vì lợi ích của họ với nguyên đơn khởi kiện không phải vì lợi ích của họ. Đối với việc dân sự, theo quy định tại khoản 5 Điều 68 BLTTDS quy định với vai trò tham gia tố tụng như nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc dân sự "là người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động". Đặc điểm của nguyên đơn trong các vụ việc dân sự: Nguyên đơn trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng dân sự do vậy nguyên đơn có đầy đủ các đặc điểm của người tham gia tố tụng. Nguyên đơn trong vụ việc dân sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có quyền lợi ích bị xâm phạm hoặc cần được xác định trong vụ án dân sự.
Quyền, lợi ích của nguyên đơn liên quan trực tiếp đến quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Nguyên đơn là chủ thể được tòa án cho tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nguyên đơn có thể tham gia tố tụng độc lập hoặc thông qua người đại diện trong tố tụng dân sự. Những quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn mà pháp luật quy định là cơ sở để nguyên đơn có điều kiện thuận lợi, bình đẳng với những người tham gia tố tụng khác trong quan hệ tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình về mặt nội dung.
10 Nguyên đơn là chủ thể có quyền tự định đoạt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình là cơ sở để phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Quyền của nguyên đơn Chúng ta thấy rằng trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp luật của Nhà nước và bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập. Theo đó, quyền của tổ chức, cá nhân khi tham gia vào tố tụng dân sự đã được pháp luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự với tư cách nguyên đơn phải được cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy định bảo vệ. Quyền của nguyên đơn là tổng hợp những hành vi mà nguyên đơn có quyền thực hiện trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, là một phần trong tổng thể quyền con người được pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các quốc gia trên thế giới quy định.
Quyền của nguyên đơn là nhóm quyền tố tụng thuộc quyền con người, là quyền của một chủ thể trong mối quan hệ xã hội được pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo tốt nhất cho những quyền, lợi ích hợp pháp của mình được thực hiện. Xét trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thì thông thường quyền của nguyên đơn sẽ tương ứng với nhiệm vụ của Tòa án trong việc đảm bảo thực hiện quyền của nguyên đơn. Thông qua việc quy định những việc nguyên đơn được thực hiện, pháp luật đặt ra các quy tắc xử sự, điều chỉnh hành vi tố tụng của nguyên đơn nhằm thực hiện mục đích của tố tụng dân sự là nhanh chóng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Suy cho cùng thì quyền của nguyên đơn là phương tiện pháp lý mà nguyên đơn có thể sử dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Vụ việc dân sự Vụ việc dân sự là vụ việc phát sinh tại Tòa án nhân dân do cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Như vậy vụ việc dân sự có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, vụ việc dân sự trước hết phải là những vụ việc phát sinh tại Tòa án. Chỉ những vụ việc nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và phát sinh tại Tòa án mới được gọi là vụ việc dân sự. Thứ hai, vụ việc dân sự phát sinh trên cơ sở có việc khởi kiện hoặc yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật.
Trong thực tế thường xảy ra nhầm lẫn giữa vụ việc dân sự và vụ án dân sự. Việc cá nhân, tổ chức yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự hay khởi kiện vụ án dân sự dẫn đến những kết quả rất khác nhau. Vì vậy cần phân biệt được khi nào yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, khi nào thì khởi kiện vụ án dân sự để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân trước những vấn đề phát sinh trong các quan hệ dân sự. Dấu hiệu pháp lý cơ bản nhất để phân biệt vụ án dân sự và việc dân sự là yếu tố có tranh chấp hay không.
Việc dân sự không có tranh chấp xảy ra còn vụ án dân sự có tranh chấp xảy ra. Vụ án dân sự là những tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là tranh chấp dân sự) do cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án giải quyết và đã được Tòa án thụ lý. Tranh chấp là tình trạng xung đột về lợi ích pháp lý giữa ít nhất từ hai chủ thể trở lên. Vụ án dân sự là đối tượng của thủ tục giải quyết vụ án dân sự.
Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án dân sự là tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Việc 12 dân sự là những trường hợp không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ mà chỉ yêu cầu Toà án giải quyết xác nhận những sự kiện pháp lý về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Mỗi vụ việc dân sự dù có tranh chấp hoặc không có tranh chấp giữa các chủ thể thì khi phát sinh tại Tòa án đều có mục đích giải quyết chung là nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Theo pháp luật hiện hành, tính chất "dân sự" được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các vụ việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, về kinh doanh, thương mại, về lao động và về các loại việc khác theo quy định của pháp luật.
Khi một vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án thì dẫn đến trách nhiệm giải quyết vụ việc dân sự đó của Tòa án nhân dân theo trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án và việc dân sự. Đối với vụ án thì đương sự có đơn khởi kiện (Toà án thụ lý, yêu cầu cung cấp chứng cứ, hoà giải và mở phiên toà xét xử nếu hoà giải không thành), còn việc dân sự chủ thể có liên quan gửi đơn yêu cầu Toà án (Toà án thụ lý, yêu cầu cung cấp chứng cứ, mở phiên họp giải quyết có sự tham gia của Viện kiểm sát, quyết định giải quyết có hiệu lực pháp luật ngay). Việc xác định tư cách nguyên đơn trong giải quyết các vụ việc dân sự Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự thì việc xác định tư cách nguyên đơn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để đảm bảo quyền lợi của mình, đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự. Việc xác định đúng tư cách nguyên đơn sẽ tránh được việc vụ án phải giải quyết đi, giải quyết lại nhiều lần gây mất thời gian, tổn phí cho nguyên đơn cũng như các đương sự khác và Toà án.
Xác định đúng tư cách nguyên đơn sẽ tránh được việc giải quyết không đúng về quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ pháp luật nội dung, đảm bảo mối liên hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng dân sự.