Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN PHẠT TÙ 1. Khái niệm quyền của người bị kết án phạt tù 1. Nhận thức về quyền con người và quyền của người bị kết án phạt tù 1. Nhận thức về quyền con người Một là, đưa chương quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân từ Chương V trong Hiến pháp năm 1992 về Chương II trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và bổ sung Quyền con người vào tên chương thành: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Việc thay đổi vị trí của chương không đơn thuần là một sự dịch chuyển cơ học, một sự hoán vị về bố cục mà là một sự thay đổi về nhận thức [33]. Với quan niệm đề cao chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp, coi quyền lập hiến cao hơn quyền lập pháp, Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lập hiến, thông qua quyền lập hiến của mình Nhân dân giao quyền cho lập pháp, hành pháp, tư pháp và các thiết chế độc lập khác, thì quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải được xác định ở vị trí trang trọng hàng đầu trong một bản Hiến pháp. Hai là, Hiến pháp năm 1992 thừa nhận thuật ngữ quyền con người, không đồng nhất quyền con người với quyền công dân, nhưng chưa phân biệt được quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong các quy định của Hiến pháp [31]. Chỉ có những người có quốc tịch mới được hưởng quyền công dân của quốc gia đó, ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước.
Để làm rõ sự khác biệt này, tham khảo các công ước Quốc tế về quyền con người và Hiến pháp của các nước, Hiến pháp sửa đổi đã sử dụng từ mọi người và từ không ai khi thể hiện quyền con người và dùng từ công dân khi quy định về quyền công dân [33]. Ba là, trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân được đề cao và thể hiện xuyên suốt trong bản Hiến pháp. Ngoài việc quy định thành nguyên tắc: Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14); ở hầu hết các điều của Hiến pháp đều quy định trách nhiệm và bảo đảm của Nhà nước như Điều 17: Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài; Điều 28: Nhà nước tạo mọi điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân. Và đặc biệt ở 8 Chương III - Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường đã quy định các chính sách và trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện các quyền về kinh tế - xã hội.
Ví dụ, Điều 59, khoản 2 quy định: Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội [33]. Có thể nói Hiến pháp năm 2013 đã có một sự đổi mới sâu sắc về nhận thức. Quyền con người, quyền công dân, theo quan niệm trước đây như là một sản phẩm, một thứ quà tặng từ phía Nhà nước cho công dân, thì hiện nay, theo Hiến pháp năm 2013, gắn liền với từng con người, là của họ mà Nhà nước pháp quyền công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm. Nhà nước không thể tùy tiện ban phát, tặng cho hoặc thu hồi một cách duy ý chí.
Bốn là, lần đầu tiên giới hạn của các quyền được quy định thành nguyên tắc trong Hiến pháp. Theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, có thể hạn chế một số quyền vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức của xã hội, tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác, quyền và tự do của người khác. Hiến pháp sửa đổi năm 2013, theo tinh thần của các công ước quốc tế đã quy định thành nguyên tắc ở Điều 14, khắc phục sự tùy tiện trong việc hạn chế quyền: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng [33]. Theo đó, từ nay không ai được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền, ngoại trừ các trường hợp cần thiết nói trên do Luật định.
Năm là, một số quyền mới được bổ sung thể hiện bước tiến mới trong việc mở rộng và phát triển quyền, phản ánh kết quả của quá trình đổi mới gần 30 năm qua ở nước ta. Đó là các quyền: Quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); Quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ (khoản 2, Điều 32); Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh, hoặc lợi ích quốc gia; tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường (khoản 3, Điều 32) [33]. Đây là những quyền mới mà các Hiến pháp trước đây không có. Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì công 9 dân có các quyền nói trên là một tất yếu.
Vì thực hiện các quyền này gắn chặt với trách nhiệm của Nhà nước, đề cao trách nhiệm của Nhà nước. Nhận thức về quyền của người bị kết án phạt tù Người bị kết án là người bị Tòa án kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người bị kết tội được coi là người bị kết án. Người bị kết án có nghĩa vụ chấp hành hình phạt theo quyết định của bản án kết án đối với mình.
Theo điều 3, Luật thi hành án 2019 thì “Người chấp hành án là người bị kết án, phải chịu hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành” [38] và “Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân” [38]. Kết hợp hai khái niệm trên thì người bị kết án phạt tù là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn theo quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và hiệu lực thi hành. Nên quyền của người bị kết án phạt tù bao gồm các quyền sau: Được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân; Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận thư, nhận quà, tiền; đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án; Được tham gia hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ; Được lao động, học tập, học nghề; Được gặp, liên lạc với thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; đối với phạm nhân là người nước ngoài được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự; Được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; Được bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo; được đề nghị xét đặc xá, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; Được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; Được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật; Được khen thưởng khi có thành tích trong quá trình chấp hành án. Một con người được coi là phạm nhân khi họ phạm tội bị kết án phạt tù và được đưa đến trại giam để chấp hành bản án, đồng thời với việc trở thành phạm nhân họ có một địa vị pháp lý hoàn toàn khác với các công dân bình thường ngoài xã hội.
Phạm nhân bị tước hoặc bị hạn chế một số quyền tự do cơ bản như: hội họp, biểu tình, tự do cư trú, đi lại, bầu cử, ứng cử. nhưng không có nghĩa là đã mất 10 quyền công dân. Họ còn các quyền và nghĩa vụ chủ yếu như: lao động, học tập, bảo vệ sức khoẻ, bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, khiếu nại, tố cáo. Tại Điều 27 Bộ luật Hình sự nêu rõ mục đích của hình phạt: Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [37]. Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành có ích cho xã hội. Từ những quan điểm trên cho thấy: Phạm nhân là các công dân có vị trí pháp lý đặc biệt. Chính vị trí này là cơ sở để các cơ quan thi hành án phạt tù áp dụng các biện pháp cưỡng chế và giáo dục đặc thù đối với họ, nhằm mục đích giáo dục họ trở thành người lương thiện.
Việc họ bị giam giữ trong trại giam không có nghĩa chỉ là để trừng phạt, bảo đảm an toàn cho xã hội mà mục đích chủ yếu là giáo dục họ trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội [38]. Khoản 4 Điều 3 Bộ luật Hình sự: Đối với người bị phạt tù thì buộc họ 12 phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt.