Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam" được nghiên cứu sinh Đinh Thị Mai thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Võ Khánh Vinh, bảo vệ năm 2014 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự, Mã số: 62.04).
Trong hệ thống tư pháp hình sự, người bị hại (NBH) và người bị buộc tội là hai chủ thể chính yếu của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Tuy nhiên, thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia cho thấy sự mất cân đối lớn: các thiết chế pháp lý và hoạt động nghiên cứu lý luận truyền thống chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm quyền của người bị buộc tội (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án), trong khi địa vị pháp lý và quyền năng của NBH chưa được quan tâm tương xứng. NBH thường tham gia tố tụng ở thế bị động, quyền lợi chưa được ghi nhận đầy đủ tại Hiến pháp và còn tản mạn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (chỉ xuất hiện trong 31/346 điều luật). Khoảng trống nghiên cứu lớn nhất mà tác giả chỉ ra là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu tiếp cận quyền của NBH dựa trên lý thuyết quyền con người kết hợp với việc khảo sát, lượng hóa thực trạng thực hiện quyền trên hồ sơ án thực tế.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập hệ thống luận cứ khoa học về quyền của NBH trong TTHS Việt Nam, qua đó góp phần xây dựng, hoàn thiện chế định quyền của NBH trong pháp luật hình sự và TTHS. Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:
- Phân tích làm rõ khái niệm, cơ sở pháp lý, nội dung các quyền của NBH; nghiên cứu so sánh lịch sử hình thành và phát triển quyền của NBH trong hệ thống tư pháp hình sự thế giới và Việt Nam; xác định các cơ chế và điều kiện bảo đảm hiện thực hóa quyền.
- Đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền của NBH tại Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2012, làm rõ nghĩa vụ thực thi của cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) và người THTT qua các số liệu khảo sát hồ sơ vụ án, bản án và vụ việc điển hình.
- Đưa ra các luận giải khoa học và kiến nghị hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật, cơ chế bảo đảm quyền của NBH phù hợp với thực tiễn Việt Nam đến năm 2030.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là bản chất pháp lý của quyền và quyền của NBH trong TTHS Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tiếp cận NBH theo nghĩa rộng, bao gồm cả cá nhân và cơ quan, tổ chức (có hoặc không có tư cách pháp nhân). Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát trên phạm vi toàn quốc, tập trung thu thập dữ liệu tại 7 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Nghệ An và Hải Dương. Phạm vi thời gian thu thập số liệu thực chứng từ năm 2007 đến năm 2012, dựa trên mẫu ngẫu nhiên gồm 91 hồ sơ vụ án hình sự tại Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) và 312 bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân (TAND), bao quát các nhóm tội phạm quy định từ Chương XII đến Chương XXIII của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài:
Về tình hình nghiên cứu trên thế giới: Phong trào nghiên cứu quyền của NBH khởi nguồn từ cuối thập niên 1970 tại Hoa Kỳ và được luật hóa qua Đạo luật Quyền của NBH năm 1982 (The Victim Rights Act). Tác giả phân tích các công trình tiêu biểu:
- Tại Châu Mỹ: Luận án tiến sĩ của John William Stickels (2003, Đại học Texas) về mô hình tư pháp hình sự lấy sự hài lòng của nạn nhân làm trung tâm; sách chuyên khảo "Seeking Justice through the Criminal Justice System" (2010) của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ; các bài viết nghiên cứu của Văn phòng Nạn nhân tội phạm Hoa Kỳ (1998, 1999).
- Tại Châu Âu: Khuyến nghị số R(85)11 và R(87)21 của Hội đồng Châu Âu; Công ước Châu Âu về bồi thường nạn nhân tội phạm (1983); Quyết định khung năm 2001 và Chỉ thị số MEMO/12/659 (ngày 04/10/2012) của Ủy ban Châu Âu; luận án tiến sĩ của E. (2000, Hà Lan); công trình nghiên cứu tại 22 hệ thống tư pháp Châu Âu của Marion (2000–2005); bài báo của Monika Sajkowska và Jolanta Szymanczak (2009).
- Tại Châu Úc: Báo cáo của Viện Tội phạm học Australia (1998–2000); sách chuyên khảo của Bộ Tư pháp New Zealand (2009).
- Tại Châu Á: Hoạt động của Hiệp hội Nạn nhân học Nhật Bản (JAV, thành lập năm 1990), Hiệp hội Nạn nhân học Hàn Quốc (KAV, 1992), Hội Nạn nhân học Ấn Độ (ISV, 1992); thiết chế Ủy ban bảo vệ NBH tại tòa án ở Hồng Kông, Bắc Kinh, Thẩm Quyến, Malaysia, Singapore, Brunei; các hội thảo tại Đại học Airlangga (Indonesia).
Về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam: Các công trình được chia thành ba nhóm:
- Nhóm nghiên cứu chung về quyền con người: Các sách chuyên khảo và giáo trình của GS. Võ Khánh Vinh (2010, 2011), Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2009).
- Nhóm nghiên cứu quyền con người trong tư pháp hình sự: Luận án của Nguyễn Quang Hiền (2007), Lại Văn Trình (2011), Hoàng Hùng Hải (2000); sách của GS. Lê Cảm (2007), Nguyễn Công Hồng và Nguyễn Văn Hoàn (2006), Nguyễn Phùng Hồng (2005), Trần Quang Tiệp (2004).
- Nhóm nghiên cứu trực tiếp về NBH: Luận án tiến sĩ của Lê Nguyên Thanh (2013), sách của PGS. Trần Hữu Tráng (2011); các bài báo chuyên ngành của Đinh Thị Mai, Lê Tiến Châu, Trần Thảo, Nguyễn Văn Cừ, Tạ Quang Khải, Mai Bộ, Hoàng Thị Liên, Nguyễn Thị Hồng Luy, Mai Thế Bày, Nguyễn Duy Hùng, Trần Quang Tiệp, Nguyễn Trương Tín, Trần Đại Thắng, Lê Văn Cân, Nguyễn Đức Thái, Trần Thanh Thủy, Đỗ Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Đình Bình, Lê Văn Minh.
Khoảng trống mà luận án giải quyết: Hầu hết các công trình trong nước trước đó chỉ phân tích NBH theo cách tiếp cận luật học truyền thống dựa trên Điều 51 BLTTHS năm 2003 (chỉ gồm 9 quyền cụ thể), chưa phân tích toàn diện mối quan hệ hai chiều giữa quyền của NBH và nghĩa vụ của cơ quan THTT. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người, mở rộng nhận diện đầy đủ 26 quyền và 2 nghĩa vụ của NBH, đồng thời chứng minh thực trạng bằng dữ liệu thống kê định lượng từ 312 bản án sơ thẩm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các lý thuyết khoa học chuyên ngành Luật hình sự, Luật TTHS, Tội phạm học và Nhân quyền học. Khung phân tích cốt lõi là phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người (Human Rights-Based Approach). Khác với cách tiếp cận dựa trên nhu cầu, phương pháp này đặt NBH ở vị trí chủ thể mang quyền (rights-holders) và đặt các cơ quan THTT, người THTT ở vị trí chủ thể có nghĩa vụ pháp lý (duty-bearers), đòi hỏi làm rõ cả nội dung quyền năng và quy trình, điều kiện thực thi quyền.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm, phân loại NBH và xây dựng khung lý luận về 26 quyền của NBH.
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định về địa vị tố tụng của nạn nhân giữa hệ thống Civil Law (Pháp, Đức, Nga, Ba Lan), hệ thống Common Law (Hoa Kỳ, Anh, Australia) và các văn kiện quốc tế của Liên hợp quốc, Liên minh Châu Âu.
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Phân tích sự phát triển chế định NBH trong cổ luật Việt Nam (Quốc triều hình luật 1482, Trị binh bạo phạm 1511, Hoàng Việt luật lệ 1811) và giai đoạn từ 1945 đến nay.
- Phương pháp thống kê, khảo sát định lượng: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tế từ 91 hồ sơ vụ án hình sự tại giai đoạn điều tra/truy tố và 312 bản án sơ thẩm hình sự tại TAND các cấp thuộc 7 địa phương.
- Phương pháp xã hội học pháp luật: Điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu chuyên gia và tổ chức tọa đàm khoa học để thu thập ý kiến về nhận thức và cơ chế bảo đảm quyền NBH.
- Phương pháp phân tích - dự báo khoa học: Sử dụng tại Chương 4 để xác định xu hướng phát triển và xây dựng hệ thống giải pháp đến năm 2030.
Nguồn tư liệu bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ án thực tế, các cơ sở dữ liệu quốc tế trực tiếp tra cứu tại Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ (Washington D.C., 2010), Thư viện Học viện Nhân quyền (Venice, Ý, 2011) và CSDL toàn văn đĩa CD-ROM của Wilson tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội (2012).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 khái quát lịch sử hình thành và phát triển của phong trào nghiên cứu về quyền của NBH trên thế giới và ở Việt Nam. Luận án phân tích bối cảnh ra đời các đạo luật, chỉ thị quốc tế từ năm 1980 đến 2012, chỉ ra rằng quyền của NBH là vấn đề mới được quan tâm khoảng 30 năm trở lại đây. Tác giả tổng hợp, so sánh kinh nghiệm lập pháp và mô hình bảo vệ NBH tại 4 khu vực: Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Úc và Châu Á. Tại Việt Nam, qua việc rà soát các giáo trình, luận án, luận văn và bài báo chuyên ngành, chương này làm rõ những kết quả đã đạt được, đồng thời khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người và kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng để đánh giá thực trạng bảo đảm quyền NBH.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự
Chương 2 xác lập nền tảng lý luận toàn diện về NBH và quyền của NBH trong TTHS.
- Khái niệm: Luận án đưa ra định nghĩa: "Người bị hại là thể nhân hoặc pháp nhân bị tội phạm gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và có các quyền, nghĩa vụ pháp lý được bảo đảm thực hiện theo quy định của luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam".
- 4 đặc điểm pháp lý của NBH:
- Đặc điểm về chủ thể: Bao gồm cả thể nhân (cá nhân) và pháp nhân (cơ quan, tổ chức), mở rộng tới các nhóm nạn nhân trong các loại tội phạm phi truyền thống.
- Đặc điểm về thiệt hại: Phải có thiệt hại trực tiếp (thể chất, tinh thần, tài sản hoặc quyền lợi hợp pháp khác) và có thể kèm theo thiệt hại gián tiếp.
- Đặc điểm về nguồn gốc thiệt hại: Do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra, áp dụng cho cả tội phạm đã hoàn thành lẫn giai đoạn phạm tội chưa đạt (khi có nguy cơ hoặc bị đe dọa gây thiệt hại).
- Đặc điểm về hình thức pháp lý: Tư cách NBH được xác lập thông qua các văn bản tố tụng của cơ quan THTT (quyết định khởi tố, biên bản ghi lời khai, cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án).
- Phân loại NBH: Dựa trên yếu tố chủ thể (cá nhân, pháp nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân) và độ tuổi/khả năng nhận thức (người đã thành niên có đầy đủ năng lực, người chưa thành niên, người có nhược điểm thể chất hoặc tâm thần).
- Hệ thống quyền năng: Luận án xác định NBH trong TTHS Việt Nam có 26 quyền và 2 nghĩa vụ, phân thành 8 nhóm quyền chính: (1) Quyền được công nhận tư cách NBH; (2) Quyền tố giác, yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố; (3) Quyền được thông tin; (4) Quyền tham gia tố tụng; (5) Quyền được bảo vệ; (6) Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại; (7) Quyền khiếu nại, kháng cáo, đề nghị thay đổi người THTT; (8) Nhóm nghĩa vụ tố tụng. Chương này cũng phân tích 4 sơ đồ về mối quan hệ giữa cơ quan THTT với NBH và các cơ chế bảo đảm quyền ở cấp độ quốc tế, Châu Âu, ASEAN.
Chương 3: Thực trạng thực hiện quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 3 trình bày các kết quả phân tích định tính kết hợp định lượng về thực trạng áp dụng pháp luật và thực hiện 8 nhóm quyền của NBH tại Việt Nam giai đoạn 2003–2012. Số liệu thống kê từ 312 bản án sơ thẩm hình sự được chọn mẫu ngẫu nhiên thể hiện cơ cấu chủ thể NBH:
| Phân loại vụ án hình sự theo chủ thể NBH |
Số lượng vụ án |
Số lượng chủ thể NBH ghi nhận |
| Tổng số vụ án hình sự khảo sát |
312 |
- |
| Vụ án có NBH là cá nhân |
256 |
480 cá nhân |
| Vụ án có NBH là pháp nhân |
2 |
2 pháp nhân |
| Vụ án pháp nhân bị thiệt hại trực tiếp nhưng chỉ tham gia với tư cách nguyên đơn dân sự |
14 |
14 pháp nhân |
| Vụ án không có NBH (xâm hại khách thể khác) |
37 |
0 |
Chương này sử dụng 22 bảng thống kê thực chứng (từ Bảng 1 đến Bảng 22, bao gồm số liệu tại TAND tỉnh Hải Dương, TAND TP. Hải Dương, TAND huyện Tứ Kỳ và các phụ lục) để minh chứng cho các tồn tại: NBH bị thay đổi tư cách tố tụng; tình trạng không trình báo, tố giác tội phạm do tâm lý e ngại; hạn chế trong việc thực hiện quyền có người bảo vệ quyền lợi; quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe chưa hiệu quả; việc thông báo kết quả điều tra và giao bản án cho NBH còn bị bỏ sót; tỷ lệ số tiền thực tế được bồi thường thấp hơn nhiều so với số tiền yêu cầu; việc thực hiện quyền tranh luận, quyền kháng cáo phần hình phạt và phần bồi thường còn gặp nhiều rào cản thủ tục.
Chương 4: Nguyên nhân và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự
Chương 4 phân tích nguyên nhân của các hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp:
- 3 nhóm nguyên nhân chính:
- Nhận thức xã hội và nhận thức của cán bộ tiến hành tố tụng, của chính NBH về quyền con người, quyền của NBH còn phiến diện, xem nhẹ.
- Hệ thống pháp luật TTHS và pháp luật liên quan chưa hoàn thiện, thiếu vắng các quy định chi tiết về thủ tục bảo vệ, chứng nhận tư cách và quyền tranh tụng của NBH.
- Cơ chế bảo đảm quyền chưa đồng bộ, thiếu vắng cơ quan chuyên trách hỗ trợ nạn nhân và quỹ bồi thường nhà nước.
- 3 nhóm giải pháp thực hiện:
- Nâng cao nhận thức xã hội và đào tạo chuyên môn cho đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán về quyền của NBH.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS: Bổ sung định nghĩa NBH bao gồm pháp nhân; luật hóa đầy đủ 26 quyền năng; quy định bắt buộc về thủ tục cấp giấy xác nhận tư cách NBH; hoàn thiện chế định khởi tố theo yêu cầu của NBH.
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm: Thiết lập hệ thống cơ quan hỗ trợ NBH, phát triển mạng lưới trợ giúp pháp lý và xây dựng chỉ dẫn thực hành quyền chi tiết dành cho NBH và cán bộ tư pháp (mục 4.3).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 5 đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
- Khái quát lịch sử lập pháp: Hệ thống hóa quá trình hình thành và phát triển quyền của NBH trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ năm 1042 đến năm 2013, làm rõ sự chuyển biến từ quy định trong cổ luật (Quốc triều hình luật 1482) đến tinh thần cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49/NQ-BCT (2005), BLTTHS năm 2003 và Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011.
- Xác lập hệ thống lý luận toàn diện: Đưa ra khái niệm NBH mở rộng (gồm cả cá nhân và pháp nhân), luận giải 4 đặc điểm pháp lý và hệ thống hóa danh mục 26 quyền cùng 2 nghĩa vụ của NBH chia làm 8 nhóm, vượt ra ngoài giới hạn 9 quyền tại Điều 51 BLTTHS năm 2003.
- Đổi mới phương pháp tiếp cận: Là công trình nghiên cứu quyền của NBH tại Việt Nam áp dụng nhất quán phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người, gắn chặt quyền năng của NBH với nghĩa vụ thực thi của cơ quan và người THTT.
- Bổ sung luận chứng thực nghiệm định lượng: Công bố bộ dữ liệu thực chứng khảo sát từ 91 hồ sơ vụ án hình sự và 312 bản án sơ thẩm tại 7 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng miền, lượng hóa tỷ lệ % thực hiện từng quyền năng cụ thể của NBH.
- Đề xuất giải pháp thực hành mang tính ứng dụng: Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp các kiến nghị sửa đổi lập pháp với bản chỉ dẫn thực hành quyền trực tiếp cho NBH và cán bộ tiến hành tố tụng trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Số liệu khảo sát thực chứng của luận án được giới hạn trong giai đoạn 2007–2012 tại 7 địa phương; nguồn tài liệu quốc tế về khu vực Châu Á chủ yếu khai thác qua các bản dịch tiếng Anh do rào cản ngôn ngữ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành các quy định về quyền của NBH khi Bộ luật TTHS được sửa đổi toàn diện; nghiên cứu sâu cơ chế tài chính cho quỹ bồi thường nạn nhân tội phạm và mô hình thành lập cơ quan chuyên trách bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân tại Tòa án.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho các đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành luật: Cung cấp khung lý luận, phương pháp tiếp cận dựa trên quyền và hệ thống tài liệu tham khảo quốc tế phong phú về nạn nhân học và quyền con người trong tư pháp hình sự.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu: Sử dụng trong giảng dạy các chuyên đề Luật TTHS, Luật Hình sự, Tội phạm học và Tư pháp người chưa thành niên.
- Cơ quan lập pháp, tư pháp và người tiến hành tố tụng: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS; phần chỉ dẫn thực hành quyền (mục 4.3) hỗ trợ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán chuẩn hóa quy trình bảo đảm quyền của NBH trong hoạt động tố tụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa khái niệm người bị hại trong tố tụng hình sự theo hướng tiếp cận dựa trên quyền như thế nào?
Luận án định nghĩa: "Người bị hại là thể nhân hoặc pháp nhân bị tội phạm gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và có các quyền, nghĩa vụ pháp lý được bảo đảm thực hiện theo quy định của luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam". Cách tiếp cận này nhấn mạnh NBH là chủ thể mang quyền chứ không chỉ thuần túy là đối tượng chịu thiệt hại phải đi "nhờ cậy" cơ quan chức năng.
2. Luận án đã hệ thống hóa bao nhiêu quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong TTHS Việt Nam?
Luận án đã nhận diện và phân loại NBH có 26 quyền cụ thể và 2 nghĩa vụ tố tụng, được phân chia thành 8 nhóm quyền chính, mở rộng hơn nhiều so với danh mục 9 quyền tại Điều 51 BLTTHS năm 2003.
3. Cơ sở lý luận và thực tiễn nào để luận án khẳng định người bị hại bao gồm cả pháp nhân?
Về lý luận, thuật ngữ "person" trong khoa học pháp lý quốc tế bao gồm cả "natural person" (thể nhân) và "legal person" (pháp nhân); việc loại trừ pháp nhân vi phạm nguyên tắc bình đẳng trước Tòa án. Về thực tiễn, khảo sát 312 bản án cho thấy có 2 vụ án tòa án đã công nhận pháp nhân là NBH (như Ngân hàng Sacombank, Tổng Công ty Vàng Agribank Việt Nam) và 14 vụ án pháp nhân bị thiệt hại trực tiếp nhưng bị buộc phải tham gia với tư cách nguyên đơn dân sự.
4. Khảo sát thực chứng của luận án được thực hiện trên cỡ mẫu và địa bàn nào?
Khảo sát thực hiện trên mẫu 91 hồ sơ vụ án hình sự tại CQĐT, VKS và 312 bản án hình sự sơ thẩm xét xử từ năm 2007 đến 2012 tại 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Nghệ An và Hải Dương.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp cơ bản nào nhằm bảo đảm quyền của người bị hại?
Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp: (1) Nâng cao nhận thức xã hội và nhận thức của cán bộ tư pháp; (2) Hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS (luật hóa 26 quyền, công nhận pháp nhân, quy định thủ tục cấp giấy xác nhận nạn nhân); (3) Hoàn thiện cơ chế bảo đảm thông qua thiết chế hỗ trợ nạn nhân và ban hành cẩm nang chỉ dẫn thực hành quyền.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đinh Thị Mai là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu toàn diện về quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở tiếp cận dựa trên quyền con người. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích pháp lý so sánh với số liệu khảo sát thực chứng từ 312 bản án sơ thẩm, luận án đã làm rõ các bất cập lý luận và rào cản thực tiễn đối với địa vị tố tụng của người bị hại. Hệ thống 26 quyền năng, 2 nghĩa vụ cùng các kiến nghị hoàn thiện thể chế và chỉ dẫn thực hành quyền trong luận án cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác lập pháp, nghiên cứu và thực thi pháp luật tố tụng hình sự tại Việt Nam.