Mở đầu Chỉ thị có đoạn: “Các hệ thống tư pháp hình sự của các nước thành viên EU đã quá tập trung vào bảo đảm quyền của người bị kết án (tội phạm) mà xem nhẹ quyền của NBH. Bằng đạo luật này, chúng tôi sẽ tăng cường quyền cho các nạn nhân. Không ai muốn trở thành nạn nhân của tội phạm, nhưng nếu nó xẩy ra, người dân cần phải được an tâm vì họ biết NBH được bảo đảm những quyền cơ bản nhất và bình đẳng ở tất cả các quốc gia trong Châu Âu”. Nghiên cứu các công trình, các tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài trực tiếp nghiên cứu về NBH và quyền của NBH trong TTHS dưới góc độ luật hình sự cho thấy một bức tranh đa màu sắc về cách ghi nhận quyền của NBH trong luật thành văn của các nước 13 cũng như một thực tế vô cùng phong phú về thực tiễn áp dụng quyền của NBH trong các giai đoạn TTHS tùy thuộc vào đặc điểm của nền tư pháp hình sự của từng khu vực, từng quốc gia.
Để có được cái nhìn tổng quan khá toàn diện và chi tiết về các phong trào nghiên cứu về quyền của NBH cũng như thuận lợi hơn trong việc đánh giá kết quả nghiên cứu của một số công trình liên quan trực tiếp đến đề tài Luận án, tác giả giới thiệu và sắp xếp các công trình nghiên cứu này gắn với phong trào nghiên cứu về quyền của NBH và gắn với các mô hình TTHS điển hình ở một số quốc gia. Cụ thể, đại diện cho Châu Mỹ (gồm Mỹ và Canada), Châu Âu (gồm Phần Lan, Pháp, Thụy Điển, Hà Lan), Châu Úc (gồm Australia và NewZealand) và Châu Á (đại diện là Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc (Hồng Kông và Đài Loan). Việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về quyền của NBH tại mỗi khu vực đều được đặt dưới sự so sánh tương quan với mô hình tố tụng và sự phát triển về quyền con người cũng như trình độ phát triển lập pháp của quốc gia đó. Châu Mỹ Xét về lịch sử cũng như qui mô phát triển thì quyền con người ở Châu Mỹ có bề dày thành tích có phần thua kém Châu Âu.
Ví dụ: Ủy ban quyền con người Châu Mỹ (Inter-American Commission on Human Rights - IACHR) được thành lập năm 1959 (ra đời sau Ủy ban quyền con người Châu Âu năm 1954), Công ước Châu Mỹ về quyền con người (American Convention on Human Rights) ra đời năm 1969 (chậm hơn 19 năm so với Công ước Châu Âu về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản – The European Convention for the Protection of Human Rights and Fundermental Freedoms, 1950). Tuy nhiên, các nhà hoạt động về nhân quyền châu Mỹ lại là những người đầu tiên lên tiếng bảo vệ quyền của NBH, nạn nhân và nhân chứng trong các VAHS. Trên thế giới, chính các nhà nhân quyền Mỹ là những người tiên phong kêu gọi bảo vệ quyền của NBH vào những năm cuối 1970. Sau đó, tại Mỹ, quyền của NBH đã khẳng định như là một quyền hiến định vào năm 1982 [260] với Bộ luật đầu tiên về quyền của NBH – The Victim Rights Act.
14 Dưới ảnh hưởng của sự phát triển về phong trào quan tâm bảo vệ quyền của NBH trong tư pháp hình sự tại Châu Mỹ như nêu trên, các công trình nghiên cứu liên quan đến quyền của NBH tại Châu Mỹ nói chung và tại Mỹ nói riêng có thể kể đến: - Luận án tiến sĩ Luật học “Victim satisfaction: A model of the Criminal Justice System” (2003), “Sự hài lòng của nạn nhân tội phạm: Một mô hình của hệ thống tư pháp hình sự” của John William Stickels, trường Đại học Texas, Hoa Kỳ. Luận án đã giới thiệu, phân tích về NBH, quyền và nghĩa vụ của NBH khi tham gia giải quyết VAHS. Luận án cũng dành hẳn 1 chương với 6 mục nghiên cứu về lịch sử và sự phát triển quyền của nạn nhân tội phạm, thông qua đó đánh giá vai trò của NBH trong hệ thống tư pháp hình sự của Mỹ. Đặc biệt, luận án đã đề xuất một mô hình tư pháp hình sự trong đó lấy nạn nhân (NBH) là trung tâm và luận giải sự hợp lý của việc coi mục đích chính của hệ thống tư pháp hình sự là cố gắng để đạt được sự hài lòng của NBH trong quá trình truy tố và xét xử tội phạm.
Các lợi ích của việc áp dụng mô hình tố tụng này sau đó được tác giả giả định và so sánh với mô hình kiểm soát tội phạm truyền thống hoặc mô hình tư pháp hình sự coi Tòa án là trung tâm của hầu hết các nước đang áp dụng hiện nay trên thế giới. Nghiên cứu tài liệu này đã giúp cho tác giả có một góc nhìn khá toàn diện về NBH và quyền của NBH trong hệ thống tư pháp hình sự Hoa Kỳ. Đặc biệt, chương 2 của luận án nói trên phân tích khá chi tiết về lịch sử phát triển quyền của NBH trong TTHS, các kết quả nghiên cứu này sẽ được tóm lược và sử dụng để nghiên cứu so sánh với vai trò của NBH trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả không đồng ý với John William khi quan niệm NBH là trung tâm của hệ thống tư pháp hình sự, cũng không đồng ý với quan điểm lấy sự hài lòng của NBH làm thước đo để quyết định hình phạt hay xem mục đích của hình phạt là nhằm đạt được sự hài lòng (satisfaction) của NBH.
- Cuốn sách: “Seeking Justice through the Criminal Justice System” (2010) (Tìm kiếm công lý trong hệ thống tư pháp hình sự) do Bộ tư pháp Mỹ công bố trong chương trình khảo sát về thực trạng bảo vệ quyền của các bên tham gia vào quá trình TTHS [245] cũng đã dành phần lớn nội dung để phân tích quá trình NBH tham gia vào các hoạt động TTHS và phản ứng tâm lý của họ về các quyền tố tụng của mình trong quá trình đi tìm chân lý của vụ án. Cuốn sách phân tích khá thuyết phục về một phản ứng của NBH: nếu NBH tin tưởng vào hệ thống tư pháp hình sự, tin tưởng vào việc quyền 15 và lợi ích hợp pháp của mình sẽ được bảo đảm trong một nền tư pháp minh bạch và tiên tiến thì họ sẵn sàng tố cáo tội phạm và đồng thời hợp tác nhiệt tình với cơ quan điều tra trong quá trình chứng minh vụ án, nếu ngược lại, họ sẽ im lặng và chịu thiệt thòi do hậu quả của tội phạm còn hơn là lại phải chịu tiếp một “thiệt hại kép” nữa từ việc theo đuổi kiện tụng hoặc theo đuổi các quá trình TTHS. - Các bài báo: “The Rights of Crime Victims: Does Legal Protection Make a Difference?” (1998) (Quyền của NBH: Những bảo đảm pháp lý liệu có làm nên sự khác biệt) đăng trên website Bộ Tư pháp Mỹ hay bài “New Directions from the Field: Victims’ Rights and Services for the 21st Century” (1999)(Quyền của NBH và các dịch vụ cho thế kỷ 21: Cách tiếp cận mới:), đăng trên tờ ngôn luận của Bộ Tư pháp Mỹ, văn phòng Nạn nhân tội phạm cũng đã luận giải và đề cập đến các khía cạnh quyền của NBH trong quá trình tham gia giải quyết VAHS nhìn từ thực tiễn pháp luật tại Washington D. Các công trình nghiên cứu này đã giúp cho tác giả có một cái nhìn tổng quan về vai trò của NBH trong hệ thống tư pháp hình sự một số nước trên thế giới cũng như có cơ sở để tiếp cận nghiên cứu về quyền của NBH trong TTHS Việt Nam dưới góc độ luật so sánh.2 Châu Âu Từ giữa những năm 1970, tại các cuộc họp cấp cao của mình, Hội đồng Châu Âu (Council of Europe) đã thảo luận về các biện pháp bồi thường cho nạn nhân.
Đến năm 1983, Công ước Châu Âu về bồi thường thiệt hại cho nạn nhân của tội phạm và lạm dụng quyền lực [263] đã ra đời với sự đồng ý tham gia của 26 nước thành viên Châu Âu lúc đó (trừ Phần lan không tham gia). Tiếp sau Công ước này, Hội đồng Châu Âu đã thảo luận và thông qua 2 Khuyến nghị quan trọng về bảo vệ quyền của NBH, đó là Khuyến nghị số R(85)11 về vai trò, vị trí của nạn nhân trong tư pháp hình sự (năm 1985) và Khuyến nghị số R(87) 21 về hỗ trợ nạn nhân và công tác phòng, chống thiệt hại cho nạn nhân (năm 1987). Từ sau năm 1993, khi Liên minh Châu Âu (EU) được thành lập thay cho Cộng đồng Châu Âu (EC), Hội đồng Liên minh Châu Âu cũng đã có nhiều cuộc họp thảo luận về quyền của các nạn nhân. Đến 15/3/2001 Công ước Châu Âu về vai trò, vị trí của NBH trong TTHS đã được thông qua bởi Đại hội đồng Liên minh Châu Âu [240].
Thực hiện Quyết định khung này, một Chỉ thị về bồi thường nhà nước cho các nạn nhân của 16 tội phạm đã ra đời và có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên EU kể từ ngày 22/3/2001 [221]. Với bối cảnh phát triển đó về phong trào bảo vệ quyền của NBH ở Châu Âu, có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau liên quan đến quyền của NBH: - Luận án tiến sĩ Luật học: “The role and position of victims of crime in the Dutch criminal law” (2000) (Địa vị pháp lý của NBH trong Hệ thống pháp luật hình sự Hà Lan) của E. Công trình đã dành gần 500 trang để phân tích, điều tra toàn diện về vị trí, vai trò và các quyền tố tụng, các quyền dân sự của nạn nhân của tội phạm ở Hà Lan. - Công trình nghiên cứu: “Victims of Crime in 22 European Criminal Justice Systems” (2000 - 2005) (Nạn nhân tội phạm trong hệ thống pháp luật hình sự của 22 nước Châu Âu) của Dr.
Marion, Khoa Luật Đại học Katholieke, EU. Đây là một công trình nghiên cứu rất đồ sộ và công phu, được giới nghiên cứu đánh giá là đã thu được những thành công vang dội, góp phần trả lời các câu hỏi liên quan đến việc thực hiện Khuyến nghị số R (85) 11 của Ủy ban các Bộ trưởng các nước thành viên Châu Âu về “Vai trò của nạn nhân trong luật hình sự và TTHS” (1985). Công trình này đã nghiên cứu vai trò của NBH trong hệ thống tư pháp hình sự các nước Châu Âu, đặc biệt hướng tới trả lời câu hỏi các nạn nhân trong các VAHS cần được hỗ trợ như thế nào để họ có thể tiếp cận được với thông tin trong quá trình tố tụng.