CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CỦA CON CHƯA THÀNH NIÊN Con chưa thành niên – một chủ thể trong quan hệ pháp luật HN&GĐ. Mặc dù là chủ thể chưa có đủ năng lực hành vi dân sự, nhưng pháp luật HN&GĐ cũng ghi nhận các quyền và nghĩa vụ xuất phát từ nền tảng quyền trẻ em. Chương này sẽ đề cập đến những vấn đề chung về quyền của con chưa thành niên, chỉ ra cơ sở phát sinh quyền cũng như nội dung quyền này được ghi nhận như thế nào trong Luật HN&GĐ.
Khái niệm, ý nghĩa của quy định về quyền của con chưa thành niên 1. Khái niệm quyền của con chưa thành niên Bàn về khái niệm quyền của con chưa thành niên, trước hết cần xác định như thế nào gọi là con chưa thành niên. Người chưa thành niên là một chủ thể trong xã hội. Về mặt sinh học, người chưa thành niên là người đang ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra đến giai đoạn vừa qua tuổi dậy thì, đây là giai đoạn chủ thể chưa có sự phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần.
Ở giai đoạn này, con người bước vào thời kỳ phát triển bản lề, có sự thay đổi nhanh, rõ rệt về thể chất, tâm sinh lý nhưng sự phát triển này vẫn nằm trong giai đoạn cuối của thời kỳ chưa trưởng thành, nhận thức chưa đầy đủ, tâm lý chưa ổn định1. Ở góc độ xã hội, người ở độ tuổi chưa thành niên là những người yếu thế, dễ bị tổn thương do khả năng thích ứng với xã hội chưa cao, chưa đủ hiểu biết, kinh nghiệm để tự bảo vệ bản thân. Người chưa thành niên có thể được phân chia theo các giai đoạn từ 0 đến 18 tuổi như sau: từ 0 đến 11 tuổi (đây là giai đoạn nhân cách của trẻ em được hình thành với những nếp sống, thói quen, những hành vi có ý thức, tự khép mình vào quy tắc xã hội hoặc theo những giá trị bản thân đã chấp nhận); từ 11 đến 16 tuổi (trẻ em có sự thay đổi cấu trúc nhân cách, từ trẻ em sang người lớn trưởng thành2); từ 16 đến 18 tuổi (đã qua giai đoạn được coi là trẻ em3 nhưng chưa phát triển một cách toàn diện về nhận thức để trưởng thành). Một khái niệm gần với khái niệm “người chưa thành niên” là khái niệm “trẻ em”.
Theo đó, trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ 1 Cao Vũ Minh (2015), “Hoàn thiện quy định pháp luật về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng về bảo vệ quyền của người chưa thành niên theo tinh thần Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20, tr. 2 Nguyễn Thị Hạnh (2022), Bảo vệ quyền trẻ em theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình, Luận văn tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 3 Theo quy định tại Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. 8 tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người.
Trẻ em là những người chưa trưởng thành, chưa hoàn thiện về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đặc biệt. Theo Điều 1 Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989 (Convention on the Rights of the Child, 1989) quy định: “Trẻ em là tất cả những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Tại Việt Nam, văn bản pháp luật dành riêng cho trẻ em đầu tiên được ban hành năm 1979 – Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Theo đó, trẻ em được nói đến trong Pháp lệnh này bao gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi4.
Năm 1991, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, văn bản này đã đưa ra định nghĩa trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi5. Đến năm 2016, Luật Trẻ em được ban hành thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, sửa đổi, bổ sung năm 2004 (đang có hiệu lực thi hành) định nghĩa trẻ em là người dưới 16 tuổi. Việc Luật Trẻ em năm 2016 bỏ cụm từ “công dân” trong định nghĩa tại Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 nhằm thể hiện sự bảo vệ cho tất cả trẻ em trên lãnh thổ Việt Nam, dù có phải là người mang quốc tịch Việt Nam hay không. Quan điểm về độ tuổi của trẻ em có sự thay đổi tùy thuộc vào thể trạng của người Việt Nam qua các giai đoạn, bên cạnh đó quy định độ tuổi dưới 16 thay vì 15 tuổi làm giảm khoảng cách biệt giữa luật Việt Nam so với Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi6.
Trong một số văn bản khác, ví dụ như Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 tuy không đưa ra định nghĩa con chưa thành niên nhưng có đề cập đến chủ thể là “Người chưa thành niên”, họ là người chưa đủ 18 tuổi7. Hay trong Bộ luật Lao động năm 2019 cũng đề cập đến quy định người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi8. Qua các quy định trên, mặc dù định nghĩa về “con” không có văn bản nào đề cập, tuy nhiên, “con” là danh xưng trong quan hệ với cha mẹ, không phân biệt cha mẹ ruột hay cha mẹ nuôi. Từ các cách xác định này có thể thấy, tại Việt Nam, độ tuổi của con chưa thành niên giống với quy định về độ tuổi của trẻ em theo Công ước 4 Điều 1 Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979.
5 Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991. 6 Điều 1 Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989. 8 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019. 9 Quốc tế về Quyền trẻ em; đối tượng này được xác định là những người dưới 18 tuổi bao gồm cả trẻ em và người từ 16 đến 18 tuổi.
Khi đề cập đến khái niệm con chưa thành niên thì cần đặt trong mối quan hệ giữa người con đó với cha, mẹ đẻ, bao gồm cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Quyền là một khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những nội dung mà pháp luật của một quốc gia ghi nhận cho chủ thể có được làm gì hay không, tức để có quyền cần phải có văn bản pháp luật ghi nhận và được đảm bảo thực thi bằng chính pháp luật của nhà nước. Như vậy, nói đến quyền của con chưa thành niên là các nội dung được làm hay không được làm của trẻ em và người từ 16 tuổi đến 18 tuổi đặt trong mối quan hệ với cha mẹ của chúng. Bởi khi đề cập đến “con” là đặt trong mối quan hệ với cha mẹ, “con” gắn liền với cha mẹ, dù là cha mẹ đẻ hay cha mẹ nuôi.
Như vậy, quyền của con chưa thành niên là quyền của con đẻ, con nuôi có được khi con chưa đến 18 tuổi. Từ đây có thể thấy, chủ thể quan trọng nhất để đảm bảo quyền của con chưa thành niên là cha, mẹ bởi đây là cá thể do họ tạo ra, nuôi nấng, giáo dục. Chính cha, mẹ là chủ thể quan trọng đảm bảo việc thực hiện quyền của con chưa thành niên. Ngoài ra, con chưa thành niên cũng là một cá thể trong xã hội, nằm trong mối quan hệ không thể tích rời với xã hội, thể hiện qua việc con trẻ đến trường, vui chơi tại nơi công cộng, thái độ của dư luận xã hội đối với các vấn đề liên quan đến con trẻ… do đó, xã hội có tác động không nhỏ đến việc thực hiện quyền của con chưa thành niên.
Bên cạnh đó, Nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ghi nhận và đảm bảo quyền của con chưa thành niên được tôn trọng, vì vậy, Nhà nước có vai trò trách nhiệm trong việc đảm bảo quyền của con chưa thành niên. Từ các phân tích trên, có thể định nghĩa: “Quyền của con chưa thành niên là quyền của con đẻ, con nuôi chưa thành niên trong quan hệ với cha mẹ, được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật”. Quyền của con chưa thành niên là một phạm trù nhỏ trong khái niệm quyền của người chưa thành niên và quyền trẻ em, được giới hạn trong phạm vi gia đình, đặt trong mối quan hệ với các thành viên trong gia đình, bên cạnh trách nhiệm của Nhà nước và xã hội. Nếu quyền của người chưa thành niên, quyền trẻ em được bảo đảm bởi Nhà nước, gia đình, xã hội thì quyền của con chưa thành niên chủ yếu được bảo đảm bởi cha, mẹ (bên cạnh vai trò của Nhà nước và xã hội) trên cơ sở các nghĩa vụ mà cha, mẹ phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Quyền của con chưa thành 10 niên xuất phát từ quyền con người, quyền công dân được áp dụng riêng cho người chưa thành niên trong gia đình, phù hợp với sự phát triển về thể chất, tâm lý xã hội của người chưa thành niên. Do đó, trong khuôn khổ của luận văn, bên cạnh phân tích các quyền của con chưa thành niên, tác giả còn phân tích các quyền của trẻ em theo công ước quốc tế và pháp luật của Việt Nam để không bỏ sót bất kỳ các quyền nào mà con trẻ được ghi nhận. Ý nghĩa của quy định về quyền của con chưa thành niên Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (Universal Declaration of Human Rights, 1948) được Liên hợp quốc thông qua vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 là một trong những văn bản vĩ đại của nhân loại thời kỳ hiện đại. Một trong những giá trị nổi bật của tuyên ngôn này là khẳng định mạnh mẽ nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử và được ghi nhận trong các Điều 1, 2, 6, 7, 8.
Các nguyên tắc này cũng trở thành nguyên tắc cơ bản của Pháp luật Quốc tế về Quyền con người (International Human Rights Law) và được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, trong đó có Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm 3 khía cạnh: (i) không bị phân biệt đối xử; (ii) được thừa nhận tư cách con người trước pháp luật; (iii) có vị thế bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng9. Nguyên tắc này lần nữa được khẳng định tại Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights, 1966) được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966.