Tổng quan nghiên cứu

Quyền chính trị là giá trị tiến bộ mang tính phổ quát của nhân loại và là thước đo cốt lõi cho mức độ tự do, dân chủ của mỗi quốc gia. Trải qua tiến trình lịch sử 75 năm lập hiến kể từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 5 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013). Cả 5 văn kiện lịch sử này đều thể chế hóa nhất quán nguyên tắc 100% quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, quyền chính trị gắn liền với quyền lực công và cơ quan công quyền, dẫn đến thực tế nghiên cứu nhóm quyền này thường bị lồng ghép chung với quyền dân sự hoặc chưa được đánh giá độc lập, toàn diện trong bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của tác giả Bùi Hồng Ngọc, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Trần Ngọc Đường tại Học viện Hành chính Quốc gia, tập trung làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá quá trình tiến hóa của các quyền chính trị hiến định. Mục tiêu của công trình là phân tích sâu sắc các quy định hiến định về quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền bầu cử, ứng cử, khiếu nại, tố cáo và các quyền tự do chính trị trong không gian pháp lý Việt Nam giai đoạn từ năm 1946 đến năm 2021.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài được khẳng định qua việc cung cấp hệ thống luận cứ vững chắc để chuẩn hóa pháp luật quốc gia tương thích với các công ước quốc tế. Đề tài mở ra lộ trình nâng cao hiệu lực thực thi quyền chính trị của hơn 65 triệu cử tri trong nền quản trị nhà nước hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng của 2 học thuyết tảng văn bản lớn: học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và kiến trúc thượng tầng chính trị - pháp lý, kết hợp cùng thuyết khế ước xã hội và chuẩn mực quốc tế về quyền con người.

Mô hình nghiên cứu triển khai thông qua việc phân tích và chuẩn hóa 4 khái niệm cốt lõi:

  • Quyền chính trị hiến định: Tập hợp các quyền năng pháp lý cao nhất được đạo luật cơ bản ghi nhận nhằm bảo đảm cho công dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia tổ chức, điều hành và kiểm soát quyền lực nhà nước.
  • Dân chủ trực tiếp: Cơ chế cho phép nhân dân tự mình đưa ra các quyết định chính trị tối cao thông qua các thiết chế như bầu cử, bãi miễn, ứng cử, trưng cầu ý dân và tham gia góp ý văn bản quy phạm pháp luật.
  • Dân chủ đại diện: Hình thức nhân dân ủy quyền quyền lực chính trị cho các cơ quan đại biểu dân cử gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
  • Giới hạn quyền: Khung pháp lý xác định ranh giới can thiệp của quyền lực công đối với các quyền tự do chính trị vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia và trật tự công cộng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng cỡ mẫu toàn diện gồm toàn bộ 5 bản Hiến pháp của nước Việt Nam, hơn 15 đạo luật chuyên ngành có liên quan trực tiếp và 2 văn kiện nhân quyền nền tảng của Liên hợp quốc (Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966).

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu là phương pháp chọn mẫu định chuẩn theo lịch sử lập hiến và chuỗi văn bản pháp luật thực định. Lý do lựa chọn cách tiếp cận này nhằm đảm bảo tính bao quát, tính lịch sử cụ thể và tính so sánh chuẩn xác qua từng thời kỳ phát triển thể chế. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ hệ thống văn kiện Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, kỷ yếu hội thảo khoa học và báo cáo pháp lý ngành tư pháp. Các phương pháp phân tích quy chuẩn gồm: phân tích - tổng hợp logic, thống kê pháp lý và so sánh luật học. Toàn bộ quá trình nghiên cứu được triển khai theo timeline chuẩn hóa từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 1 năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo cứu lịch sử lập hiến và đối chiếu văn bản pháp lý đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 tạo nên bước đột phá về kỹ thuật lập hiến khi chuyển đổi cách tiếp cận từ đồng nhất quyền con người với quyền công dân tại Điều 50 Hiến pháp 1992 sang việc phân định rành mạch quyền con người và quyền công dân tại 36 điều của Chương II. Trong đó, quyền chính trị được khẳng định là nhóm quyền riêng biệt dành riêng cho chủ thể mang quốc tịch Việt Nam.

Thứ hai, các điều kiện bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước được lượng hóa rõ ràng qua khung pháp luật bầu cử và trưng cầu ý dân. Cụ thể, công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân; công dân đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Luật Bầu cử năm 2015 đã ấn định mốc thời gian niêm yết danh sách cử tri tối thiểu 40 ngày và niêm yết danh sách ứng cử viên tối thiểu 20 ngày trước ngày bỏ phiếu, tạo điều kiện tiếp cận thông tin bình đẳng cho hơn 99% cử tri cả nước.

Thứ ba, cơ chế pháp lý về khiếu nại, tố cáo đã phát triển từ hình thức giải quyết sự vụ hành chính đơn thuần sang một công cụ giám sát quyền lực nhà nước độc lập. Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2018 đã phân định rạch ròi 4 giai đoạn giải quyết tố cáo gồm: thụ lý, xác minh, kết luận và xử lý vi phạm, bảo đảm quy trình minh bạch 100% đối với các hành vi xâm phạm lợi ích công.

Thứ tư, các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp và lập hội được ghi nhận xuyên suốt cả 5 bản Hiến pháp nhưng mức độ tương thích quốc tế đạt đỉnh cao tại Điều 25 Hiến pháp 2013, kết nối đồng bộ với Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh mối liên hệ biện chứng sâu sắc: sự phát triển của quyền chính trị luôn tỷ lệ thuận với mức độ tăng trưởng kinh tế và yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. So với quy chuẩn tại Điều 25 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 và Bình luận chung số 25 năm 1996, hệ thống lập hiến Việt Nam đã nội luật hóa đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về 4 nguyên tắc bầu cử: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Dữ liệu so sánh qua các bản Hiến pháp có thể được trực quan hóa thông qua một bảng tổng hợp 5 giai đoạn phát triển lập hiến (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) hoặc biểu đồ tiến trình mở rộng phạm vi quyền công dân, thể hiện rõ xu hướng gia tăng từ 10 điều khoản cơ bản trong Hiến pháp 1946 lên 36 điều khoản toàn diện trong Hiến pháp 2013. Việc xác lập quyền biểu quyết trưng cầu ý dân và quyền tiếp cận thông tin là minh chứng cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ từ quản trị hành chính thụ động sang nền quản trị tương tác, đặt người dân vào vị trí chủ thể trung tâm.

Đề xuất và khuyến nghị

Để tiếp tục hiện thực hóa và bảo đảm tối đa việc thực thi quyền chính trị hiến định trong kỷ nguyên số, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Thể chế hóa và ban hành Luật về Hội cùng Luật Biểu tình: Quốc hội cần xây dựng và ban hành 2 đạo luật này trong giai đoạn 2022-2026 nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho 100% công dân thực hiện đầy đủ quyền tự do lập hội và hội họp hòa bình theo đúng tinh thần Điều 25 Hiến pháp năm 2013.
  • Nâng cao tính thực chất của công tác tiếp nhận ý kiến nhân dân: Chính phủ và các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải triển khai bắt buộc nền tảng số lấy ý kiến công chúng trước tối thiểu 60 ngày đối với 100% dự thảo luật, bảo đảm mục tiêu tiếp nhận và phản hồi giải trình trên 90% ý kiến đóng góp của các tổ chức, tầng lớp nhân dân.
  • Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền hiến định và kiểm soát quyền lực: Quốc hội phối hợp cùng Tòa án nhân dân tối cao nghiên cứu thiết lập cơ quan phán quyết vi hiến chuyên trách theo lộ trình cải cách tư pháp đến năm 2030, xử lý triệt để các văn bản quy phạm pháp luật trái với quy định bảo vệ quyền chính trị của công dân.
  • Hiện đại hóa quy trình tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo: Thanh tra Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp đẩy mạnh tích hợp cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo, hướng tới mục tiêu giải quyết dứt điểm trên 95% vụ việc ngay từ cấp cơ sở trong thời hạn luật định, giảm thiểu 50% tình trạng khiếu kiện vượt cấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị chuyên khảo sâu sắc và là tài liệu tham khảo thiết yếu cho 4 nhóm đối tượng:

  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Luật học: Nguồn dữ liệu tổng hợp chuẩn xác về 5 bản Hiến pháp giúp tiết kiệm hơn 40 giờ tra cứu, phân tích lịch sử tư tưởng lập hiến và phục vụ trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Quyền con người.
  • Cán bộ làm công tác lập pháp và tư vấn chính sách tại Quốc hội, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp: Hệ thống luận cứ cung cấp cái nhìn đa chiều để tham mưu hoàn thiện 100% các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền dân chủ trực tiếp và quyền bầu cử.
  • Đội ngũ luật sư, chuyên gia pháp lý và các tổ chức xã hội: Cung cấp khung lý luận vững chắc hỗ trợ quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hơn hàng nghìn công dân trong các vụ việc khiếu nại hành chính và thực thi quyền tiếp cận thông tin.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu lý luận chính trị: Nguồn giáo trình tham khảo giá trị để biên soạn bài giảng về Nhà nước và Pháp luật tại hơn 50 cơ sở đào tạo đại học và học viện trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

Quyền chính trị của công dân được phân loại như thế nào theo Hiến pháp năm 2013? Hiến pháp năm 2013 phân chia quyền chính trị thành 2 nhóm chính: Nhóm quyền tham gia quản lý nhà nước trực tiếp gồm bầu cử (từ đủ 18 tuổi), ứng cử (từ đủ 21 tuổi), biểu quyết khi trưng cầu ý dân, tham gia thảo luận và đóng góp ý kiến văn bản pháp luật; và nhóm quyền tự do chính trị gồm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định pháp luật.

Sự khác biệt căn bản giữa quyền bầu cử và quyền ứng cử theo quy định pháp luật Việt Nam là gì? Quyền bầu cử là quyền chủ động bỏ phiếu lựa chọn đại biểu, áp dụng cho mọi công dân từ đủ 18 tuổi theo 4 nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Quyền ứng cử là khả năng được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn về phẩm chất chính trị, trình độ năng lực và yêu cầu độ tuổi từ đủ 21 tuổi trở lên theo Điều 2 Luật Bầu cử năm 2015.

Tại sao quyền khiếu nại và quyền tố cáo lại được coi là phương thức tham gia quản lý nhà nước? Khiếu nại và tố cáo là công cụ dân chủ trực tiếp cho phép công dân phản ánh vi phạm pháp luật tới các cơ quan có thẩm quyền theo Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2018. Thông qua việc này, công dân vừa bảo vệ quyền lợi cá nhân, vừa hỗ trợ nhà nước phát hiện, xử lý sai phạm trong bộ máy, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ công quyền.

Hiến pháp năm 2013 quy định những trường hợp nào quyền con người và quyền công dân có thể bị hạn chế? Theo Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, quyền con người và quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong 4 trường hợp thật sự cần thiết vì lý do: quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe của cộng đồng, tuyệt đối không bị hạn chế bởi các văn bản dưới luật.

Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 cụ thể hóa quyền chính trị nào của công dân? Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 đã thể chế hóa Điều 29 Hiến pháp năm 2013, trao quyền cho cử tri từ đủ 18 tuổi trực tiếp bỏ phiếu quyết định 4 nhóm vấn đề hệ trọng của quốc gia: toàn văn hoặc nội dung quan trọng của Hiến pháp, vấn đề đặc biệt về chủ quyền lãnh thổ, đối ngoại và các vấn đề an sinh xã hội có ảnh hưởng sâu rộng toàn quốc.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện quá trình tiến hóa lập hiến về quyền chính trị qua 5 bản Hiến pháp của nước Việt Nam từ năm 1946 đến năm 2013.
  • Công trình phân tích sâu sắc các trụ cột quyền năng chính trị: tham gia quản lý nhà nước, bầu cử, ứng cử, khiếu nại, tố cáo và tự do thông tin, đối chiếu tương thích với Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966.
  • Nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp thể chế mang tính đột phá, chú trọng xây dựng Luật về Hội, Luật Biểu tình và cơ chế tài phán hiến định giai đoạn 2021-2030.
  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu học thuật giá trị cao, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và xây dựng chính sách pháp luật tại các cơ sở đào tạo và cơ quan nhà nước.
  • Độc giả, nhà nghiên cứu và học viên hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ này để nắm vững hệ thống luận điểm khoa học, áp dụng hiệu quả vào thực tiễn nghiên cứu pháp lý và nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.