CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN CUA CÁ NHÂN. ĐỐI VỚI HÌNH ANH 1. Lý luận chung về quyễn nhân thân của cá nhân: 1. Khái niệm nhân thân: “Quyên nhân thân” 1a thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ những quyển gắn liên với bản thân của mỗi con người, gắn liên với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân vả quyên nay có liên quan mật thiết đền danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Do đó quyển nhân thân lả một quyén rất quan trọng trong các quyển dân sự, cũng bởi chính lý do nảy ma quyên nhân thân la một trong những nội dung cơ ban của quyển con người đã được pháp luật thể giới nói chung va pháp luật Việt ‘Nam thừa nhận va bao vệ. Để hiểu rõ hơn về quyền nhân thân của cá nhân thi trước hết chúng ta cùng làm rổ khái niêm "nhân thân” Hiện nay dưới góc đô pháp lý chưa có văn bản nao dé cập đến khái niệm “nhân thân”. Tuy nhiên ta có thể hiểu: Nhân thân được hiểu chủ yếu là các yếu tổ nói đến con người với tính cách 1a thành viên của xã hội, là người tham gia vào quan hệ xã hội, là thực thể zã hội. Khái niệm nay chỉ bao gôm những đặc điểm vẻ tâm lý, xã hội và có thể có một số đặc điểm vẻ sinh học có ý nghĩa về mặt xã hội như giới tỉnh, tuôi, nghề nghiệp, trình đô văn hóa, trình đô giáo dục, hệ thống giá tr, thái đô, cách cư xử.
'Nhữ vay, ta có thé thay việc xác nhân các yêu tổ liên quan đến nhân thân là các yéu tổ rất quan trong. Có thể nói các yếu tổ nhân thân có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của con người, ảnh hưởng đến nhân thức của chủ thé. Việc các yêu tô đánh giá nhân thân nêu trên như giới tính, tudi, nghề nghiệp, trình đô văn. hóa, trình đồ giáo duc, hệ thông giá trị, thái đồ, cach cử xử.
có ảnh hưởng đền. Mỗi người có một nhân thân riêng và chính nó biểu thi đặc điểm liên quan dén nhận thức va hành vi của từng người. Chính vì vay, nói ngược lại khi đánh giá hành vi của một chủ thể ta cũng can xem xét đền các yếu tổ nhân thân. gay ra ảnh hưởng, "Nhân thân 1a một trong những quyển vẻ dân sự được gắn liên với chính bên thân của người đó, theo đó nhân thân được hình thành va phát sinh, thay đổi, chấm đứt bằng quyết định của cơ quan nha nước có thẩm quyền.
Vi du như kết hôn, sinh, tử, xác định các quan hệ cha con, vơ chẳng, họ tên, quốc tịch, qué quan, dân tộc. Cac quan hé nhân thân phát sinh từ các quan hệ ca nhân ruột thịt và tir đó làm phát sinh quyển nhân thân và quyền nay không thể trao cho người khác, tức nó mang tính chất không thể chuyển giao. Khái quyền nhân thân: Con người là chủ thé của xã hội, lả mục tiêu hướng đền đầu tiến của quá trình phát triển. Vì thé giá tr của con người là giá tri cao nhất và việc thừa nhận các giá trị cla con người chính la việc thừa nhận các quyển con người.
Tương tự với các quốc gia khác trên thé giới, tại Việt Nam quyên con người được ghi nhận trong Hiển pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong đó, quyên nhân thân được ghỉ nhân va bao vé- mét trong những bô phận quan trong của quyền dan sự và được cu thé hóa tại các BLDS. Quyên nhân thân với tư cách lả một thuật ngữ pháp lý, lần đâu tiên được nhắc đến trong BLDS năm 1995, nó ra đời và ý nghĩa là cơ sở pháp ly dé bão vệ cho cả nhân tôn tại với tư cách là một thực thể, một chủ thé độc lập trong công Tông thé cjmyỗn giao cho người khác, trie trường hợp pháp luật có quy đinh lạ “Quyền nhân thân được qn dinh trong BLDS gắn liền với mỗi cá nhân khác ”. Đây là một trong những điểm mới tiêu biểu của BLDS năm 1995, đánh. iu bước tiên lớn của pháp luật dân sự cũng như hệ thông pháp luật Việt Nam, đất nên móng cho sự nghiên cứu vé khái niệm “quyển nhân thân”.
BLDS 2005 và BLDS 2015 tiếp tục ké thừa gần như trọn vẹn quy định này của BLDS năm. 1905 khi định nghĩa vẻ quyển nhân thân. Theo Khoản 1 Điêu 25 BLDS năm. 2015: “Quyên nhân thân được quy định trong Bộ iuật này là quyền dân sự gắn liền với.
mỗi cá nhân, không thé cimyễn giao cho người khác, trừ trường hop khác có liên quem cuy dinh khác ”. Đây là định nghĩa tương đối Khải quát, có tính hệ thông, Với quan điểm nảy, các nba làm luật đã nhìn nhân quyên nhân thân với hai điểm chính lả "quyền dân sư gắn liền với mỗi cá nhân” và "không thể chuyển giao” Trong cuỗn Từ điển giãi thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Ha Nội xuất bản năm 1999 sác định “Giá tí nhiên thân của cá nhân và lỗ chức được pháp luật ghi nhân và bảo vệ. Chỉ những giá tri nhân thân được pháp luật ghi nhân mới coi là quyền nhân thân. Quyền nhân thân luôn gẵn với chỉ thé cà Ruông thé chuyén giao cho người Riác trừ trường hop pháp luật có yy dint".
Định nghĩa cho rằng chỉ những giá tri nhân thân mới được pháp luật ghi nhận la quyên nhân thân, còn những giá tri nhân thân không được ghi nhận sẽ không được xem lả quyển nhân thân. Định nghĩa nay đã vô hình chung thu hẹp pham vi quyển nhân thân cia con người. Theo Tiên sĩ Lê Đình Nghĩ trong Để tải nghiên cứu cấp trường “Quyển nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyên nhân thân trong pháp luật dân sư ‘theo ngiĩa chi quan, quyền nhân thân là quyén đân sue ch quan ớ cá nhân đo nhà nước guy dinh cho mỗi cả nhân và các cá nhân không thể chuyén giao quyén nay cho người khác “. Ở quan điểm này, định nghĩa về quyền nhân than được xem là đẩy đủ vả toàn diện hơn bởi thể biện được các thuộc tinh như là quyển dân sự, gắn liên với cá nhân, được nhả nước quy định và không thể chuyển giao.
Trong cuén Tap chí Luật học số 7 năm 2009, PGS.TS Bùi Đăng Mia pháp luật có quy định thừa nhận pháp nhân và các chủ thể khác cũng có quyển nhân thân va tác giả đã chỉ ra được những vấn dé bat cập néu đưa ra khái niêm. quyên nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản la là "quyển dân sự gắn liễn với mỗi cá nhân” và "không thé chuyển giao”. Từ đó, để phân biệt quyên nhân thân với các quyển dân sự khác, có thể xây dựng khái niệm quyển nhân thân như. sau: “Quyển nhân thân ia quy: ấn oi chủ thé, Rhông dinh giá được bằng tiền vàkhông thé ciuyén giao cho chi thé khác, trừ trường hop pháp luật có quy dinh khác Nour vậy, qua việc tìm hiểu những quan điểm khoa học pháp lý đến luật thực định về khái niệm quyên nhân thân cho thay, hiện nay, còn có nhiều cách nhìn nhận, tiếp cận về quyền nhân thân khác nhau ở nhiêu goc độ nhất định.
Tuy nhiên, về cơ bản, các quan điểm nói trên déu thông nhất ở một số các điểm. Thứ nhất quyển nhân thân là một bộ phân của quyển din sự và quyền thuộc về cá nhân Thứ hai, quyền nhân thân luôn hướng ti những giá trị tinh thin không định giá được như quyền đối với họ tên; quyền được khai sinh; quyền được khai tử, quyển tự do đi lai, tự do cư trú, quyển đối với hình ảnh cá nhân. Tất cả những quyền này liên quan mất thiết đến những nhu câu có của một cả nhân sống trong xã hội va bat cử ai cũng không được phép zâm pham, Thứ ba, quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác, nghia 1a quyển nhân thân của mỗi cá nhân chỉ di chính cá nhân đó có quyên thực hiện hoặc do người đại diện của họ thực hiện trong một số trường hợp do pháp luật quy định. ‘Vi vậy, xuất phát từ những quan điểm trên, hiện nay pháp luật thực định cũng như các công trình nghiên cứu khoa học chưa có một định nghĩa thống nhất vé quyển nhân thân Do đó, để hiểu ta có thé đưa ra khái niệm về quyền nhân than như sau: “Quyén nn thân là quyễn dân se, i i không định giả được bằng tiễn và các chủ thé không thé cluyễn giao quyén nàp cho chủ thé khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định Rhác 1113.
Đặc điểm quyền nhân thân: " Bùi Đăng Kiểu, Khúiniệm vì nhân loại quan thin, Typ chi it học, (209). 10 Với bản chất là một bộ phân quyển din sự, quyển nhân thân có đẩy đủ các đặc điểm của quyên dân sự nói chung Ngoài ra, nó còn mang một số đặc điểm riêng biết nhằm phân biết với quyền tai sản. Cụ thể như. quyền nhân thân là một quyền dân sự.
Quyên nhân thân 1a quyền hướng tới con người, bão vệ con người để các. cá nhân déu được tw do phat triển ban thân Chủ thể của pháp luật dân sự lả cá nhân, pháp nhân va các chủ thé khác, trong đó cá nhân là chủ thé được nhắc đến nhiễu nhất trong pháp luật dân sự Do vay, quyển nhân thân được coi như một quyên đặc biết trong quyền dân sự, phần thuộc về cả nhân va giá trị tịnh than Thứ hai, quyền nhân thân mang tính chất pit tài san Khác với quyên tải sản, đổi tương của quyền nhân thân một giá trị tỉnh thân, do đó, quyên nhân thân không biểu hiện bằng vat chất, không quy đổi được thành tiên và mang giá tr tính than. Giá trị tính thân và tiên tế không phải Ja những đại lượng tương đương vả không thể trao đổi ngang gia. Do vậy, quyền nhân thân không thé bi đính đoạt hay mang ra chuyển nhượng cho người khác.
Một người không thể kê biên quyền nhân thân của con nơ. Pháp luật quy định cho mọi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân. Mỗi một chủ thé có những. giá tri nhân thân khác nhau nhưng được pháp luật bảo vệ như nhau khi các giá trĩ đó bị sâm phạm.
Tint ba, quyền nhân thân gắn liền với một chủ thé nhất đinh và không thé chuyển dich thân luôn gén liên với một chủ thé nhất định. Mặc di vậy, quyền nhân thân. không bị phụ thuộc, chỉ phối bởi bất kỳ yếu tổ khách quan nảo như đô tuổi, trình đô, giới tinh, tôn gido, địa vi 2 hội. Quyên nhân thân không thể chuyển dịch cho người khác, tức lả, quyển nhân thân của méi cả nhân chỉ do chính cá nhân đỏ hoặc trong một số trường hợp do chủ thể khác được pháp luật quy định thực hiên.