Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Phạm Thu Hương (Lớp 4507, MSSV 450725) dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Đăng Hiếu tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2023. Đề tài thuộc chuyên ngành Luật Dân sự, tập trung nghiên cứu chế định bảo hộ quyền nhân thân đối với hình ảnh trong bối cảnh phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự bùng nổ của mạng xã hội.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Theo lập luận của tác giả, sự phát triển của khoa học công nghệ, Internet và mạng xã hội mang lại nhiều tiện ích nhưng đồng thời tạo ra môi trường làm gia tăng các hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh. Với sự hỗ trợ của các thiết bị ghi hình, quay lén hiện đại, nhiều hình ảnh riêng tư bị thu thập và phát tán trái phép. Hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân không chỉ dừng lại ở các tranh chấp dân sự thuần túy mà trong nhiều trường hợp đã chuyển hóa thành các hành vi nguy hiểm cho xã hội, có dấu hiệu cấu thành tội phạm hình sự như tội làm nhục người khác hoặc tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về quyền hình ảnh trong luật dân sự là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi của cả lý luận và thực tiễn xét xử.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về nhân thân, quyền nhân thân và quyền của cá nhân đối với hình ảnh; nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về nội dung quyền, giới hạn quyền và các biện pháp bảo vệ quyền hình ảnh của cá nhân.
  3. Khảo sát thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam, chỉ ra những vướng mắc, bất cập nảy sinh trong đời sống xã hội và môi trường mạng.
  4. Đề xuất các định hướng, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh quyền của cá nhân đối với hình ảnh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ pháp luật dân sự liên quan đến quyền của cá nhân đối với hình ảnh; các quy phạm pháp luật điều chỉnh và cơ chế thực thi, bảo vệ quyền này.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam, có nghiên cứu so sánh đối chiếu với pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức, Australia, Pháp và Hoa Kỳ.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát quá trình phát triển quy định pháp luật qua các thời kỳ Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, 2005, 2015 và thực tiễn thực hiện đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm pháp lý

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận về quyền con người và quyền dân sự, kế thừa các quan điểm pháp lý học thuật:

  • Khái niệm nhân thân và quyền nhân thân: Tác giả tiếp cận định nghĩa quyền nhân thân theo Khoản 1 Điều 25 BLDS năm 2015, kết hợp đối chiếu với định nghĩa trong Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Trường Đại học Luật Hà Nội, 1999), đề tài nghiên cứu của TS. Lê Đình Nghị và công trình của PGS.TS Bùi Đăng Hiếu trên Tạp chí Luật học (số 7/2009). Quyền nhân thân được xác định là quyền dân sự gắn liền với chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp luật có quy định khác.
  • Phân loại quyền nhân thân: Tiếp cận quan điểm chia quyền nhân thân thành quyền nhân thân cơ sở (quyền gốc) — không thể chuyển nhượng, và quyền nhân thân phái sinh — quyền khai thác giá trị thương mại gắn với hình ảnh cá nhân cụ thể.
  • Bản chất của hình ảnh cá nhân: Được xác định là sự tái hiện vẻ bề ngoài của một người thông qua thị giác (dáng người, khuôn mặt, cử chỉ, hành động, kiểu tóc, trang phục...), mang tính chất cá biệt hóa chủ thể và cho phép nhận diện được cá nhân cụ thể đó.

Văn bản pháp luật sử dụng làm căn cứ

  • Pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013 (Điều 16); BLDS năm 1995 (Điều 31); BLDS năm 2005 (Điều 31); BLDS năm 2015 (Điều 11, 12, 25, 32, 584, 590, 591, 592, 606, 607); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 155, 156, 289, 326); Luật Công an nhân dân năm 2014 (Điều 5); Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 (Điều 6); Nghị định số 15/2020/NĐ-CP (Điều 99); Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP.
  • Pháp luật quốc tế: Đạo luật Bản quyền Nghệ thuật Cộng hòa Liên bang Đức (KUG - Điều 22, Điều 23); BLDS Pháp (Điều 8, Điều 9, Điều 9-1); các quy định pháp luật và tiền lệ của Australia và Hoa Kỳ.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống:

  • Phương pháp phân tích quy phạm và giải thích luật học để làm rõ nội hàm các điều luật.
  • Phương pháp so sánh luật học nhằm đối chiếu các mô hình bảo hộ quyền hình ảnh của nước ngoài với pháp luật Việt Nam.
  • Phương pháp tổng hợp, khái quát hóa lý luận để xây dựng định nghĩa và đặc điểm của quyền hình ảnh.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống thực tiễn (case study) dựa trên các vụ việc vi phạm thực tế trong đời sống xã hội và trên môi trường Internet.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu sử dụng trong văn bản bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, ấn phẩm tạp chí chuyên ngành luật, các án lệ và vụ việc thực tế, cùng số liệu thống kê người dùng mạng xã hội từ báo cáo thị trường của tổ chức DataReportal tính đến tháng 5/2023.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về nhân thân, quyền nhân thân nói chung và quyền nhân thân đối với hình ảnh nói riêng, đồng thời nghiên cứu so sánh pháp luật của một số quốc gia.

  1. Lý luận chung về quyền nhân thân: Tác giả chỉ ra rằng nhân thân bao gồm các đặc điểm tâm lý, xã hội và sinh học có ý nghĩa xã hội (giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa...). Quyền nhân thân mang 5 đặc điểm cơ bản:

    • Là một bộ phận của quyền dân sự, hướng tới bảo vệ sự tự do phát triển của con người.
    • Mang tính chất phi tài sản, đối tượng là giá trị tinh thần, không biểu hiện bằng tiền tệ và không thể đem ra kê biên hay chuyển dịch ngang giá.
    • Gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao (chỉ có quyền nhân thân phái sinh khai thác thương mại từng bức ảnh cụ thể mới có thể tham gia giao dịch).
    • Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền nhân thân theo tinh thần Điều 16 Hiến pháp năm 2013.
    • Mang tính tuyệt đối, được bảo hộ suốt đời và bảo hộ vô thời hạn (kể cả sau khi cá nhân đã chết thông qua quyền yêu cầu của thân nhân).
  2. Quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân: Khái niệm hình ảnh được phân tích qua các góc độ ngôn ngữ, văn học, triết học và nhiếp ảnh. Khóa luận rút ra định nghĩa: Hình ảnh của cá nhân là sự tái hiện vẻ bề ngoài của một người thông qua thị giác, được ghi lại và mang dấu ấn riêng giúp người xem nhận diện được cá nhân đó. Quyền đối với hình ảnh có đặc trưng nổi bật là quyền cá biệt hóa chủ thể (tương tự họ tên, dân tộc), được bảo vệ khi có yêu cầu và được pháp luật bảo vệ chống lại các hành vi sử dụng, phát tán trái phép.

  3. Pháp luật một số quốc gia về quyền hình ảnh:

Quốc gia Văn bản / Nguồn luật áp dụng Nguyên tắc bảo hộ chính Cơ chế xử lý vi phạm
Cộng hòa Liên bang Đức Đạo luật Bản quyền Nghệ thuật (KUG - Điều 22, 23) Hình ảnh chỉ được phân phối, công khai khi có sự đồng ý của người được mô tả; giả định có đồng ý nếu đã nhận thù lao. Phạt tù đến 1 năm hoặc phạt tiền (Điều 22, 23 KUG); áp dụng biện pháp tiêu hủy thiết bị/mẫu vật vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại.
Australia Pháp luật thông diễn (Common Law) Chụp ảnh người khác ở nơi công cộng không bị coi là bất hợp pháp; cá nhân chỉ có thể tự che ống kính chứ không được thu giữ máy móc hay dùng vũ lực. Dùng vũ lực với thợ ảnh bị xử lý hình sự về tội đe dọa hoặc hành hung.
Pháp BLDS Pháp (Điều 8, Điều 9, Điều 9-1) và Án lệ Tòa Phá án Quyền đối với hình ảnh được bao hàm trong quyền tôn trọng đời tư (Điều 9); bảo hộ nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 9-1). Thẩm phán có quyền quyết định áp dụng thủ tục khẩn cấp tạm thời: kê biên tài sản, cải chính, bồi thường thiệt hại.
Hoa Kỳ Quy định pháp luật bang và Hướng dẫn của Hội nhiếp ảnh gia Cho phép tự do chụp ảnh tại nơi công cộng (ngoại trừ khu vực quân sự, an ninh, phòng thay đồ, nhà vệ sinh). Chịu trách nhiệm pháp lý nếu đăng tải, phát tán hình ảnh nhằm mục đích thương mại, bôi nhọ hoặc xâm phạm nghiêm trọng đời tư.

Chương 2: Quy định về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam

Chương 2 phân tích cụ thể các điều khoản thực định trong BLDS năm 2015, làm rõ nội dung quyền, các trường hợp giới hạn quyền và các chế tài bảo vệ.

  1. Nội dung quyền cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32 BLDS năm 2015):

    • Quyền định đoạt đối với hình ảnh: Quyết định kiểu dáng, trang phục, phong cách bên ngoài; quyết định việc ghi lại, công khai, phát tán hoặc khai thác thương mại hình ảnh.
    • Quyền cho phép người khác sử dụng hình ảnh: Người sử dụng hình ảnh phải có sự đồng ý của cá nhân; nếu sử dụng vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao (trừ khi có thỏa thuận khác). Trường hợp người có hình ảnh chưa đủ 15 tuổi, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức/làm chủ hành vi thì phải được người đại diện đồng ý; người đã chết hoặc mất tích phải được sự đồng ý của vợ, chồng, con thành niên hoặc cha, mẹ (Khoản 2 Điều 25 BLDS năm 2015).
    • Quyền được bảo vệ trước pháp luật: Quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền đình chỉ hành vi vi phạm, buộc thu hồi, tiêu hủy, xin lỗi, cải chính và bồi thường thiệt hại.
  2. Giới hạn quyền nhân thân đối với hình ảnh:

    • Trường hợp không cần sự đồng ý (Khoản 2 Điều 32 BLDS năm 2015): Sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; sử dụng từ các hoạt động công cộng (hội nghị, hội thảo, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật...) mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
    • Phục vụ hoạt động tư pháp và công vụ: Đăng hình ảnh truy nã can phạm theo Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC; quyền của người dân quay phim, giám sát hoạt động của Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ căn cứ Khoản 3 Điều 5 Luật Công an nhân dân năm 2014.
    • Xung đột với quyền tự do báo chí và nguyên tắc suy đoán vô tội: Việc cơ quan báo chí đăng ảnh cá nhân bị can, bị cáo chưa được che mờ mặt khi chưa có phán quyết có hiệu lực của Tòa án có thể xâm phạm nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền bí mật đời tư.
  3. So sánh quyền hình ảnh với các quyền nhân thân khác: Tác giả phân biệt ranh giới giữa quyền đối với hình ảnh với Quyền bí mật đời tư (Điều 38 BLDS năm 2015) và Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34 BLDS năm 2015), khẳng định hành vi xâm phạm hình ảnh thường là phương tiện trực tiếp dẫn đến việc xâm phạm danh dự hoặc bí mật đời tư.

  4. Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh:

    • Biện pháp tự bảo vệ (Điều 12 BLDS năm 2015): Trực tiếp yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi, gỡ bỏ hình ảnh.
    • Biện pháp dân sự (Điều 11, Điều 584 BLDS năm 2015): Khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai (dẫn chứng vụ việc MC Đan Lê khởi kiện báo điện tử N năm 2008), và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường phát sinh khi đáp ứng đủ 4 điều kiện theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP: (1) Có hành vi trái pháp luật; (2) Có thiệt hại thực tế (vật chất và tổn thất tinh thần theo các Điều 590, 591, 592, 606, 607 BLDS năm 2015); (3) Có mối quan hệ nhân quả; (4) Có lỗi cố ý hoặc vô ý của bên gây thiệt hại.
    • Biện pháp hành chính: Xử phạt theo Nghị định số 15/2020/NĐ-CP (Điều 99) với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (mức trung bình là 15.000.000 đồng) đối với hành vi phát tán ảnh cá nhân không có sự đồng ý, xúc phạm danh dự nhân phẩm; buộc gỡ bỏ đường dẫn và tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm. Ngoài ra có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
    • Biện pháp hình sự: Truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các tội danh: Tội làm nhục người khác (Điều 155), Tội vu khống (Điều 156), Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289), Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 326).

Chương 3: Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật Việt Nam về quyền cá nhân đối với hình ảnh và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chương 3 phản ánh thực trạng xâm phạm hình ảnh trên các nền tảng công nghệ số, nêu ra các vụ việc vi phạm điển hình và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.

  1. Tác động từ sự bùng nổ của mạng xã hội:

    • Dẫn số liệu từ DataReportal (tính đến tháng 5/2023), Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có lượng người dùng mạng xã hội lớn nhất thế giới:
      • Facebook: 66,2 triệu người dùng (xếp thứ 7 toàn cầu).
      • TikTok: 50,6 triệu người dùng (xếp thứ 6 toàn cầu).
      • YouTube: Xếp vị trí thứ 9 toàn cầu.
    • Khóa luận phân tích rủi ro từ hợp đồng điều khoản dịch vụ (ToS) của các nền tảng mạng xã hội: người dùng khi đăng ký tài khoản buộc phải chấp nhận điều khoản cấp phép cho nền tảng thu thập, khai thác hình ảnh.
    • Nguy cơ từ tính năng phản hồi/duet/stitch trên TikTok: cho phép người dùng tái sử dụng video chứa hình ảnh của người khác để tạo nội dung mới hoặc gây tranh cãi trái chiều nhằm kiếm tiền quảng cáo mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu video.
    • Xung đột pháp lý giữa quyền cá nhân đối với hình ảnh và quyền tác giả: Khi bên thứ ba lấy hình ảnh cá nhân chỉnh sửa, tạo tác phẩm phái sinh, Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 có thể bảo hộ quyền tác giả cho tác phẩm mới, dẫn đến sự xung đột với quyền bảo vệ tính toàn vẹn hình ảnh của cá nhân.
  2. Thực tiễn vi phạm quyền hình ảnh tại Việt Nam:

    • Sử dụng hình ảnh trái phép trong kinh doanh: Các cơ sở kinh doanh biển hiệu áo cưới, băng đĩa, tiệm cắt tóc, gội đầu tự ý sử dụng hình ảnh hoa hậu, người mẫu, diễn viên nổi tiếng để quảng cáo.
    • Mạo danh, quảng cáo lừa đảo: Cầu thủ bóng đá Công Vinh bị các ứng dụng cá độ bóng đá cắt ghép hình ảnh quảng cáo trái phép; danh hài Trấn Thành bị lợi dụng hình ảnh để bán nước hoa giả, kém chất lượng.
    • Phát tán hình ảnh nhạy cảm và hoạt động tư pháp: Phát tán clip nhạy cảm trong nhà nghỉ, khách sạn; phát tán clip quay lén bắt quả tang hành vi mua bán dâm lên mạng xã hội; cơ quan báo chí chụp và đăng tải hình ảnh cận cảnh bị cáo quay mặt trốn ống kính tại các phiên tòa xét xử công khai.
  3. Vướng mắc trong áp dụng pháp luật và định hướng hoàn thiện:

    • Các quy định tại Điều 32 BLDS năm 2015 còn mang tính khái quát, thiếu cơ chế hướng dẫn cụ thể về việc xác định mức độ thiệt hại tinh thần trong các vụ việc xâm phạm hình ảnh.
    • Tòa án còn lúng túng khi giải quyết các tranh chấp về quyền hình ảnh trên không gian mạng; ranh giới giữa giám sát công vụ/tự do báo chí với hành vi xâm phạm hình ảnh chưa được phân định rõ ràng.
    • Khóa luận khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật dân sự nhằm nâng cao tính khả thi, bảo đảm nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ lý luận và thực định điều chỉnh quyền nhân thân đối với hình ảnh tại Việt Nam từ BLDS năm 1995 đến BLDS năm 2015.
  • Làm rõ cấu trúc nội dung quyền hình ảnh bao gồm 3 quyền năng: quyền tự định đoạt, quyền cho phép người khác sử dụng (kèm theo quyền hưởng thù lao) và quyền yêu cầu bảo vệ khi bị xâm hại.
  • Phân tích rành mạch 4 cơ chế bảo vệ pháp lý đa ngành (Tự bảo vệ, Dân sự, Hành chính, Hình sự) kèm theo các điều kiện cấu thành trách nhiệm cụ thể.
  • Đưa ra bức tranh thực tiễn về tình trạng xâm phạm quyền hình ảnh trên không gian mạng tại Việt Nam dựa trên các số liệu của DataReportal và các vụ việc thực tế.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

  • Đóng góp vào khoa học pháp lý dân sự việc phân định giữa quyền nhân thân cơ sở (không thể chuyển dịch) và quyền nhân thân phái sinh (quyền khai thác thương mại đối với từng tác phẩm hình ảnh cụ thể).
  • Chỉ ra các điểm xung đột pháp lý chưa được xử lý triệt để trong hệ thống luật thực định: xung đột giữa quyền hình ảnh (Điều 32 BLDS năm 2015) với quyền tác giả (Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019) và quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa theo Luật Báo chí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân, đề tài chủ yếu khai thác các quy phạm pháp luật thực định và các sự kiện vi phạm phản ánh qua phương tiện truyền thông; số lượng bản án, quyết định giải quyết tranh chấp dân sự chính thức tại Tòa án nhân dân các cấp được trích dẫn phân tích còn hạn chế. Văn bản chưa đi sâu phân tích tác động của các công nghệ tạo sinh hình ảnh mới nổi (như Deepfake hoặc trí tuệ nhân tạo tạo sinh) do thời điểm hoàn thành là năm 2023.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu xây dựng cơ chế định lượng và bồi thường tổn thất tinh thần đối với các vi phạm quyền hình ảnh; hoàn thiện khung pháp lý về quản lý dữ liệu nhận diện khuôn mặt và trách nhiệm pháp lý của các nền tảng kỹ thuật số xuyên biên giới trong việc bảo vệ dữ liệu hình ảnh cá nhân.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật (đặc biệt là Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Báo chí): Cung cấp hệ thống lý luận chặt chẽ, bảng so sánh pháp luật quốc tế (Đức, Pháp, Úc, Mỹ) tại Chương 1 và cấu trúc phân tích 4 điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Chương 2.
  • Luật sư, Thẩm phán và Cán bộ tư pháp: Tham khảo cơ sở pháp lý và các vụ việc thực tế (vụ MC Đan Lê, việc chụp ảnh bị cáo tại tòa, quay clip lực lượng chức năng) để đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ hình ảnh và xác định ranh giới giữa quyền công cộng với quyền riêng tư.
  • Những người làm nội dung số và truyền thông: Nắm rõ các quy định về việc sử dụng hình ảnh có trả thù lao, các giới hạn ngoại lệ không cần xin phép và mức xử phạt vi phạm hành chính (10.000.000 – 20.000.000 đồng theo Nghị định số 15/2020/NĐ-CP).

Câu hỏi thường gặp

1. Quyền nhân thân đối với hình ảnh có thể chuyển nhượng hoặc mua bán như tài sản không?

Không. Theo Khoản 1 Điều 25 BLDS năm 2015 và phân tích tại Chương 1, quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân cơ sở, mang tính phi tài sản, gắn liền với bản thân cá nhân nên không thể chuyển giao hay mua bán. Đối tượng trong các hợp đồng quảng cáo hay làm mẫu ảnh thực chất là quyền cho phép sử dụng hình ảnh cụ thể (quyền nhân thân phái sinh), chứ không phải chuyển nhượng quyền hình ảnh của cá nhân.

2. Pháp luật Việt Nam quy định những trường hợp nào được sử dụng hình ảnh của cá nhân mà không cần sự đồng ý?

Căn cứ Khoản 2 Điều 32 BLDS năm 2015, hình ảnh được phép sử dụng không cần sự đồng ý trong hai trường hợp:

  • Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng (như đăng hình ảnh truy nã tội phạm).
  • Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng (hội nghị, hội thảo, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động công cộng khác) với điều kiện không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

3. Đăng tải hình ảnh của người khác lên mạng xã hội khi chưa được phép bị xử phạt hành chính như thế nào?

Theo quy định tại Điều 99 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP, hành vi đăng, phát tán hình ảnh của cá nhân mà không có sự đồng ý, đưa thông tin sai sự thật xuyên tạc danh dự, nhân phẩm sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (mức trung bình là 15.000.000 đồng đối với trường hợp không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ). Ngoài ra, người vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện và buộc gỡ bỏ đường dẫn đến thông tin vi phạm.

4. Khóa luận chỉ ra sự khác biệt cơ bản nào giữa pháp luật Việt Nam và Australia về việc chụp ảnh nơi công cộng?

Tại Việt Nam, việc sử dụng và phát tán hình ảnh cá nhân về nguyên tắc phải được sự đồng ý của người có hình ảnh (Điều 32 BLDS năm 2015). Ngược lại, tại Australia, pháp luật không quy định quyền nhân thân đối với hình ảnh; việc chụp ảnh một người ở nơi công cộng là hoàn toàn hợp pháp mà không cần sự đồng ý của họ. Người không muốn bị chụp ảnh ở Australia chỉ có quyền tự dùng tay che ống kính, không được quyền thu giữ thiết bị hay dùng vũ lực với người chụp.

5. Để yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do bị xâm phạm hình ảnh cá nhân, cần chứng minh những căn cứ nào?

Căn cứ Điều 584 BLDS năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, người bị xâm phạm phải chứng minh đủ 4 điều kiện:

  1. Có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền hình ảnh của cá nhân.
  2. Có thiệt hại thực tế xảy ra (bao gồm tổn thất vật chất hoặc tổn thất tinh thần theo quy định tại các Điều 590, 591, 592 BLDS năm 2015).
  3. Có mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại phát sinh.
  4. Có yếu tố lỗi (cố ý hoặc vô ý) của người thực hiện hành vi xâm phạm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Thu Hương là một công trình nghiên cứu hệ thống và bám sát thực tiễn pháp lý về quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo pháp luật dân sự Việt Nam. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận cốt lõi, so sánh đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và phân tích sâu sắc các quy định thực định tại Điều 32 BLDS năm 2015 cùng hệ thống chế tài đa ngành. Công trình phản ánh chân thực những thách thức mới phát sinh từ sự phát triển của mạng xã hội và không gian số, qua đó cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho việc nghiên cứu, giảng dạy và hoàn thiện pháp luật dân sự trong tương lai.