Quyền bình đẳng của phụ nữ theo công ước CEDAW và luật bình đẳng giới tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích quyền bình đẳng của phụ nữ theo công ước quốc tế và luật bình đẳng giới tại Việt Nam cùng kinh nghiệm quốc tế.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

115
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ THEO CÔNG ƯỚC CEDAW VÀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1.1. Vị trí của Công ước CEDAW trong Luật quốc tế về quyền con người

1.2. Sự hình thành và phát triển của Công ước CEDAW

1.3. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong nội dung cơ bản của Công ước CEDAW

1.4. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam

1.4.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trước khi có Luật Bình đẳng giới

1.4.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của Luật Bình đẳng giới

1.5. Mối quan hệ giữa Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

1.5.1. Tác động qua lại giữa các quy định của Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới về quyền bình đẳng của phụ nữ

1.5.2. Vấn đề nội luật hoá các quy định của Công ước CEDAW về quyền bình đẳng của phụ nữ vào Luật Bình đẳng giới

1.5.3. Tiêu chí quốc tế và quốc gia về quyền bình đẳng của phụ nữ trong CEDAW và Luật Bình đẳng giới

1.6. Điều chỉnh pháp lý quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực Dân sự - Chính trị theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

1.6.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị, công cộng theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

1.6.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong các vấn đề dân sự - pháp lý theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

1.6.3. Quy chế quốc gia và quốc tế bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng trong lĩnh vực dân sự - chính trị theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

1.7. Điều chỉnh pháp lý quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực Kinh tế - xã hội và văn hoá theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

1.7.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

1.7.2. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong các vấn đề về y tế, giáo dục, đào tạo

1.7.3. Quy chế quốc gia và quốc tế bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và văn hoá theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC CEDAW VÀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

2.1. Đánh giá chung về tình hình thực hiện Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

2.2. Những kết quả đạt được trong khi thực hiện Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

2.3. Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

2.4. Một số nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

2.5. Thực tiễn về bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới

2.5.1. Về xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật

2.5.2. Về bộ máy nhà nước có thẩm quyền bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐỂ ĐẢM BẢO TỐT HƠN QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

3.1. Hội nhập quốc tế và những vấn đề mới đặt ra đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

3.2. Kinh nghiệm của một số nước làm bài học thực tiễn cho Việt Nam trong bảo đảm thực thi quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước CEDAW

3.3. Về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị - xã hội

3.4. Về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm

3.5. Về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế

3.6. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế

3.7. Một số kiến nghị

3.7.1. Phương hướng chung

3.7.2. Một số giải pháp cụ thể

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền bình đẳng của phụ nữ theo CEDAW

Quyền bình đẳng của phụ nữ là một trong những vấn đề quan trọng trong xã hội hiện đại. Công ước CEDAW (Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ) được thông qua vào năm 1979 đã khẳng định quyền này trên bình diện quốc tế. CEDAW không chỉ là một văn bản pháp lý mà còn là một cam kết mạnh mẽ của các quốc gia trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Tại Việt Nam, việc phê chuẩn CEDAW vào năm 1981 đã mở ra một kỷ nguyên mới cho quyền bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

1.1. CEDAW và vai trò của nó trong quyền con người

CEDAW được xem là một trong những công ước quan trọng nhất trong lĩnh vực quyền con người. Nó không chỉ bảo vệ quyền lợi của phụ nữ mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững và công bằng xã hội. CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp cần thiết để xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.

1.2. Tình hình thực hiện CEDAW tại Việt Nam

Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc thực hiện CEDAW. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua, bao gồm việc nâng cao nhận thức xã hội về quyền bình đẳng của phụ nữ và cải thiện các chính sách pháp luật liên quan.

II. Những thách thức trong việc thực hiện quyền bình đẳng giới ở Việt Nam

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề như bạo lực gia đình, phân biệt đối xử trong công việc và giáo dục vẫn diễn ra phổ biến. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của phụ nữ mà còn cản trở sự phát triển của xã hội.

2.1. Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em

Bạo lực gia đình là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất ảnh hưởng đến quyền bình đẳng của phụ nữ. Theo thống kê, một tỷ lệ lớn phụ nữ tại Việt Nam đã từng trải qua bạo lực thể chất hoặc tinh thần trong gia đình.

2.2. Phân biệt đối xử trong lĩnh vực lao động

Phụ nữ thường phải đối mặt với sự phân biệt trong tuyển dụng, lương bổng và cơ hội thăng tiến. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân của họ mà còn làm giảm hiệu quả kinh tế của xã hội.

III. Phương pháp cải thiện quyền bình đẳng của phụ nữ theo CEDAW

Để cải thiện quyền bình đẳng của phụ nữ, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng, cải thiện chính sách pháp luật và tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các quyết định chính trị là những yếu tố quan trọng.

3.1. Nâng cao nhận thức về bình đẳng giới

Giáo dục và tuyên truyền về quyền bình đẳng của phụ nữ là rất cần thiết. Các chương trình giáo dục cần được triển khai rộng rãi để nâng cao nhận thức của cả nam và nữ về bình đẳng giới.

3.2. Cải thiện chính sách pháp luật

Cần có những chính sách pháp luật rõ ràng và cụ thể để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Việc thực thi các chính sách này cần được giám sát chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền bình đẳng của phụ nữ

Nghiên cứu về quyền bình đẳng của phụ nữ theo CEDAW đã chỉ ra rằng việc thực hiện các quyền này không chỉ mang lại lợi ích cho phụ nữ mà còn cho toàn xã hội. Các chương trình hỗ trợ phụ nữ trong giáo dục, lao động và chính trị đã cho thấy những kết quả tích cực.

4.1. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ phụ nữ

Nhiều chương trình đã được triển khai nhằm hỗ trợ phụ nữ trong việc tiếp cận giáo dục và việc làm. Những chương trình này đã giúp nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội.

4.2. Tác động tích cực đến phát triển kinh tế

Việc đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho quyền bình đẳng của phụ nữ

Quyền bình đẳng của phụ nữ theo CEDAW và luật bình đẳng giới ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, để đạt được sự bình đẳng thực sự, cần có sự nỗ lực từ cả cộng đồng và chính phủ. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc cải thiện chính sách, nâng cao nhận thức và tạo ra môi trường thuận lợi cho phụ nữ.

5.1. Tầm quan trọng của sự hợp tác

Sự hợp tác giữa các tổ chức chính phủ và phi chính phủ là rất cần thiết để thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ. Các tổ chức này có thể hỗ trợ nhau trong việc triển khai các chương trình và chính sách.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Cần có những chiến lược dài hạn để đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ. Điều này không chỉ giúp phụ nữ phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền bình đẳng của phụ nữ theo công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và luật bình đẳng giới ở việt nam một số kinh nghiệm nước ngoài

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ THEO CÔNG ƢỚC CEDAW VÀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI 1. Vị trí của Công ƣớc CEDAW trong Luật quốc tế về quyền con ngƣời 1. Sự hình thành và phát triển của Công ước CEDAW Trong thế giới hiện đại, xu thế phát triển của Luật quốc tế về quyền con người đang ngày càng tăng cường và mở rộng phạm vi các quyền bình đẳng của phụ nữ. Một loạt các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966… đều dựa trên cơ sở đề cao sự bình đẳng về nhân phẩm và các quyền cho phụ nữ.

Trong điều kiện như vậy, Công ước CEDAW được xây dựng nhằm bảo vệ ở phạm vi rộng lớn các quyền của phụ nữ, trước hết là bảo đảm cho phụ nữ được sống an toàn, tự do, phát triển bền vững, với việc đặc biệt nhấn mạnh bảo đảm sự bình đẳng đối với phụ nữ trong hưởng thụ các quyền cơ bản của con người. Công ước CEDAW 1979 chiếm một vị trí rất quan trọng. Theo Nghị quyết số 34/180 ngày 18/12/1979, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua CEDAW và ngày 3 tháng 9 năm 1981, Công ước đã chính thức có hiệu lực. Tính đến nay đã có 185 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết Công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên hợp quốc.

Công ước chính thức có hiệu lực với Việt Nam ngày 19 tháng 3 năm 1982. Sự ra đời của Công ước CEDAW xuất phát từ nhận thức quan trọng của cộng đồng quốc tế về quyền con người, đó là bình đẳng trở thành thước đo giá trị phẩm giá và quyền cơ bản của con người trong xã hội. Sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân loại tiến bộ vì một xã hội công bằng, dân chủ, nhân đạo và văn minh. Công ước CEDAW được coi là một dấu mốc lịch 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử quan trọng trên con đường đấu tranh giải phóng một nửa nhân loại, xóa bỏ một trong ba bất bình đẳng lớn nhất của thế kỷ XX là bất bình đẳng về giới.

Đây là văn bản pháp lý quốc tế toàn diện nhất từ trước đến nay nhằm xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, bảo đảm quyền bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội: dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Công ước CEDAW là cơ sở pháp lý quan trọng cho các chương trình hoạt động của các nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, của bản thân phụ nữ nhằm bảo đảm nhân cách, phẩm giá, các quyền con người cơ bản, quyền bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ, cải thiện và nâng cao địa vị của người phụ nữ trong xã hội hiện đại. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong nội dung cơ bản của Công ước CEDAW Là điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực quyền con người, ngoài Lời nói đầu, Công ước CEDAW chia thành sáu phần với 30 điều. Lời nói đầu đề cập đến cơ sở pháp lý, tính chất bức thiết của việc soạn thảo, ban hành Công ước CEDAW, ý nghĩa của Công ước CEDAW đối với việc bảo đảm các quyền của phụ nữ.

Phần I đề cập đến khái niệm « phân biệt đối xử » và cam kết của các nước thành viên trong việc bảo đảm các quyền bình đẳng và các cơ hội phát triển cho phụ nữ. Phần II đề cập đến các quyền của phụ nữ trên lĩnh vực chính trị. Phần III đề cập đến các quyền của phụ nữ trên lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa. Phần IV đề cập đến các quyền của phụ nữ trong lĩnh vực dân sự.

Hai phần cuối, phần V và phần VI đề cập đến vấn đề thi hành và hiệu lực của Công ước CEDAW. Ngoài ra, theo Nghị quyết A/54/4 ngày 6 tháng 10 năm 1999, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị định thư không bắt buộc của Công ước CEDAW về Ủy ban xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ để xem xét các kháng thư của cá nhân và nhóm cá nhân khiếu nại về việc quyền lợi của họ hoặc của người do họ đại diện bị quốc gia thành viên vi phạm. Nghị định 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thư này chính thức có hiệu lực từ ngày 22 tháng 12 năm 2000. Đến tháng 9 năm 2005, Nghị định thư đã có 72 quốc gia tham gia và Việt Nam chưa gia nhập Nghị định thư này.

Về tổng thể, Công ước CEDAW là một trong số những điều ước quốc tế quan trọng nhất thuộc hệ thống điều ước quốc tế đa phương được kí kết trong lĩnh vực nhân quyền. Nội dung cơ bản của Công ước CEDAW là hướng vào những cách thức, biện pháp nhằm loại trừ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong thụ hưởng các quyền con người cơ bản đã được xác định bởi các điều ước quốc tế về nhân quyền khác. Với tính chất này thì thực chất Công ước CEDAW nhằm trao cho phụ nữ trên toàn thế giới những quyền con người đã được Luật Quốc tế và luật quốc gia ghi nhận nhưng phụ nữ chưa được hưởng hoặc chưa được hưởng một cách đầy đủ trên thực tế, bởi sự phân biệt đối xử với phụ nữ ở các quốc gia. Ngoài ra, khác với các điều ước quốc tế về quyền con người khác, trong đó vấn đề bình đẳng giới được qui định chung, Công ước CEDAW đã chỉ ra cụ thể những lĩnh vực hiện đang tồn tại sự phân biệt đối xử với phụ nữ một cách nặng nề để từ đó xác định những biện pháp thích hợp, nhằm loại bỏ hoàn toàn tình trạng bất bình đẳng của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Nói cách khác, đây là loại hình công ước quốc tế chuyên biệt về chống phân biệt đối xử với phụ nữ, hướng đến mục tiêu xác lập thực tế địa vị bình đẳng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống. Nội dung quan trọng đầu tiên phải kể đến trong Công ước CEDAW là khái niệm "phân biệt đối xử với phụ nữ". Điều 1 Công ước CEDAW định nghĩa sự phân biệt đối xử với phụ nữ là: " … bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính, có tác động hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hay vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người trên tất cả các lĩnh vực" [20]. Đối chiếu với cách tiếp cận trong các văn kiện nhân quyền quốc tế trước đó, có thể thấy rằng Công ước CEDAW đã đưa 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra một định nghĩa cụ thể và đầy đủ.

Nếu như trong bộ luật nhân quyền quốc tế mới chỉ đề cập đến khái niệm này ở dạng khái quát là những hành vi phân biệt đối xử về mặt giới tính thì trong Công ước CEDAW, khái niệm này đã được đề cập một cách hết sức chi tiết. Định nghĩa trên đã được sử dụng một cách thường xuyên và rộng rãi trong tất cả các Điều khoản tiếp theo của Công ước CEDAW cũng như được coi là cách hiểu thống nhất khi đề cập đến vấn đề nhân quyền của phụ nữ sau này. Đây có thể coi là một đóng góp có ý nghĩa đầu tiên của Công ước CEDAW với sự nghiệp đấu tranh vì các quyền phụ nữ trên thế giới bởi lẽ thực chất của việc bảo đảm các quyền con người cho phụ nữ chính là việc xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Các quyền bình đẳng của phụ nữ là nội dung trọng tâm của Công ước CEDAW và được đề cập trong 14 điều khoản, từ điều 2 đến điều 16.

Nếu như các văn kiện quốc tế về nhân quyền trước đó mới chỉ đề cập đến các quyền con người của phụ nữ ở mức độ khái quát hoặc dừng lại ở một vài khía cạnh riêng biệt thì trong Công ước này, lần đầu tiên các quyền của phụ nữ đã được đề cập một cách cụ thể và toàn diện nhất. Công ước CEDAW đã nêu ra một loạt những quyền con người của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực. Trong lĩnh vực chính trị, Công ước đề cập đến những quyền chính trị cơ bản nhất của phụ nữ như quyền bầu cử, quyền tham gia bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lý các công việc của đất nước, quyền tham gia các tổ chức xã hội… Trong lĩnh vực dân sự, Công ước CEDAW đã đề cập đến các quyền của phụ nữ trong vấn đề sở hữu, quản lý và thừa kế tài sản, trong các vấn đề kết hôn, ly hôn, các vấn đề liên quan đến tài sản và nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, Công ước CEDAW đã đề cập đến quyền bình đẳng của phụ nữ trong giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe, trong việc hưởng thụ, tham gia các hoạt động văn hóa giải trí, thể dục thể thao… Những qui định này cũng được xây dựng trên cơ sở khẳng định những nguyên tắc đã được đề cập trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa 1966 và các văn kiện khác, như Công ước 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về các quyền chính trị của phụ nữ 1952, Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn 1957, Công ước về kết hôn tự nguyện, tuổi tối thiểu khi kết hôn và việc đăng kí kết hôn… Nhiều nội dung trong Công ước CEDAW chưa từng được đề cập trong bất cứ một văn kiện quốc tế nào trước đó.

Liên quan trực tiếp đến các quyền bình đẳng của phụ nữ, Công ước CEDAW còn đưa ra một sự nhìn nhận hết sức toàn diện về mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố truyền thống, văn hóa đối với việc tạo lập sự bình đẳng về giới. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi lẽ việc tạo lập vị thế bình đẳng về các quyền và địa vị cho phụ nữ chịu ảnh hưởng và phụ thuộc rất lớn vào việc xóa bỏ những tập tục truyền thống, các chuẩn mực xã hội và văn hóa có tính chất phân biệt đối xử đối với phụ nữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ