CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI DƯỚI 18 TUỔI 1. Khái niệm về quyền bào chữa của người bị buộc tội dưới 18 tuổi 1. Khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự QBC được quy định khá sớm trong pháp luật nước ta. Hiếp pháp luật gốc của các đạo luật đã ghi nhận QBC ngay tại bản Hiến pháp đầu tiên.
Trong BLTTHS QBC được tiếp tục phát triển và nâng lên tầm cao mới, không những QBC được ghi nhận là một nguyên tắc của luật TTHS, mà Bộ luật Tố tụng Hình sự còn quy định nghĩa vụ của các cơ quan THTT trong việc bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện QBC của họ. Để hiểu khái niệm “quyền bào chữa”, trước hết phải hiểu khái niệm “bào chữa” là gì, theo Từ điển Tiếng việt “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước Tòa án hoặc cho một việc làm đang bị lên án”. [86, tr 38] Đến nay, mặc dù đã được Hiến pháp, BLTTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định khá đầy đủ về QBC cho người người bị buộc tội. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý thì khái niệm QBC còn có nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng “ QBC là tất cả các quyền mà pháp luật qui định để chống lại sự buộc tội” [43, tr 49].
Quan điểm này chưa đúng và chưa đầy đủ về nội dung của QBC trong luật TTHS Việt Nam vì trong luật không có chỗ nào quy định cho phép ai đó có quyền “chống lại” sự buộc tội. Quan niệm thứ hai cho rằng “ Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền tố tụng tạo khả năng cho bị can, bị cáo bào chữa về hành vi do mình thực hiện đã bị buộc tội và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác” [88, tr 71] 8 Quan điểm thứ ba PGS, TS Hoàng Thị Minh Sơn cho rằng “QBC của bị can, bị cáo là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định bị can, bị cáo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ” Quan điểm thứ tư theo PGS, TS. Phạm Hồng Hải cho rằng: “Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự” [15, tr 29.30] Như vậy, khái niệm QBC đã được hiểu rất khác nhau. Theo tác giả, tất cả các quan điểm về QBC nói trên mặc dù đã phần nào mô tả được nội dung, bản chất, đặc biệt là chủ thể của quyền này nhưng đều chưa hoàn toàn chính xác bởi nếu cho rằng QBC chỉ thuộc về bị can, bị cáo như quan điểm thứ hai và thứ ba thì quá hẹp về phạm vi chủ thể, không chỉ bị can, bị cáo phải đối diện với tội danh mà các cơ quan THTT truy tố mà người bị bắt, bị tạm giữ cũng phải đối diện với khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự bản thân họ đã bị hạn chế về quyền tự do của công dân trong một thời gian, và đối diện với nguy cơ bị buộc tội.
BLTTHS năm 2015 qui định “Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Trong Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 4 Điều 31 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa”. Theo các quy định này, QBC thuộc về người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo và nội dung quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) cho người bị buộc tội. 9 Hoạt động buộc tội được thực hiện thông qua quyết định có tính chất buộc tội chính thức như quyết định khởi tố, truy tố hoặc chủ thể buộc tội áp dụng một số biện pháp cưỡng chế như bắt, tạm giữ, khám xét trước khi khởi tố trên cơ sở phán đoán chủ quan của cơ quan có thẩm quyền.
Do đó, hoạt động bào chữa trong TTHS không chỉ hướng đến xác định sự vô tội, giảm nhẹ TNHS mà còn là sự phản biện trước những biện pháp cưỡng chế của chủ thể buộc tội để bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội do vậy tôi cho rằng ngoài những chủ thể như người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng là người bị buộc tội. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp dù với thời hạn tối đa là 12 giờ, nhưng xét dưới góc độ lý luận thì họ cũng là người bị buộc tội. Theo điểm g, khoản 1 Điều 58 BLTTHS năm 2015 thì người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa. Và còn một đối tượng nữa cũng là chủ thể của QBC đó là người bị kết án.
Người bị kết án cũng là người bị buộc tội vì để kết án một người nào đó, cơ quan THTT phải trải qua khâu buộc tội, khi một ai đó bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật thì khả năng bản án này có nguy cơ mắc phải sai lầm là điều khó tránh khỏi dẫn tới kết án ai đó có thể oan, sai, nên việc duy trì, công nhận và cho thực thi QBC của người bị kết án là cần thiết. Pháp luật TTHS cũng cho phép người bị kết án được quyền “thông báo cho người có quyền kháng nghị” biết những sai sót trong bản án đã có hiệu lực để ra kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm (Điều 374 BLTTHS năm 2015), hoặc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm (Điều 399 BLTTHS năm 2015) đây chính là một cách quy định gián tiếp QBC cho người bị kết án. Như vậy, từ những phân tích trên và kế thừa các quan điểm của các nghiên cứu được tham khảo, tác giả xin đưa ra khái niệm QBC trong TTHS như sau: “QBC trong TTHS là tổng hợp các quyền tố tụng hình sự của người 10 bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bị kết án được pháp luật quy định cho họ nhằm đưa ra các chứng cứ chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ trước sự buộc tội của cơ quan THTT”. Khái niệm người bị buộc tội dưới 18 tuổi Ở Việt Nam thuật ngữ “người chưa thành niên” được quy định nhiều trong các văn bản khác nhau, Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên (CTN) phạm tội nêu rõ “người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”.
Điều 90 Bộ luật Hình sự năm 2015 “Người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo những quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”. Điều 20 và 21 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “ Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên; “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Điều 161 Luật Lao động năm 2013 quy định: “người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”. Như vậy hệ thống pháp luật nước ta có sự thống nhất về khái niệm người CTN.
Để nhằm hoàn thiện cơ chế tố tụng bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người CTN, khắc phục những bất cập trong thực tiễn xử lý các vụ án có người CTN, phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, đồng bộ với luật Trẻ em, BLTTHS năm 2015 đã sử dụng thuật ngữ pháp lý “người dưới 18 tuổi” để thay đổi cho thuật ngữ hiện dùng là “người CTN”. Như vậy trong thời điểm hiện nay việc sửa đổi tên này là phù hợp tránh có nhiều cách hiểu khác nhau và không thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật. 11 Người bị buộc tội là khái niệm mới của luật TTHS Việt Nam. Để làm rõ khái niệm này thì phải xuất phát từ khái niệm sự “buộc tội” theo đó sự buộc tội chỉ xuất hiện khi một người bị cáo buộc là đã thực hiện một hành vi mà Bộ luật hình sự coi là tội phạm.
Sự buộc tội được coi là hình thành từ thời điểm một người được thông báo chính thức bởi cơ quan có thẩm quyền về những chứng cứ cho rằng người đó đã thực hiện hành vi phạm tội và kể từ thời điểm đó một người bị coi là người bị buộc tội trong vụ án hình sự. Sự buộc tội kéo dài trong suốt quá trình chứng minh hành vi của người bị cáo buộc có tội hay không có tội và kết thúc bằng một quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật của cơ quan THTT. Để thống nhất trong hoạt động tố tụng cũng như phù hợp với các quy định của Công ước quốc tế, luật pháp của các nước tiến tiến trên thế giới, điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 quy định “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong pháp luật TTHS Việt Nam được hiểu là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi tại thời điểm họ bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố hình sự vì có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm người bị buộc tội dưới 18 tuổi như sau: “Người bị buộc tội dưới 18 tuổi là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bị kết án có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi” 1.