chương 1 Quyên an tử đã tôn tại trong xã ừ thời xa xưa. Hình thức của quyền an tử đã xuất hiện từ lâu, ngay cả khi con người chưa có nhận thức rõ về nó. Quyên an tử không phải là một khái niém mi trên thé giới hay tại Việt Nam. Bản chất của quyền antử là giúp cho những bệnh nhân không con cơ hôi được cứu chữa, đang phải chiu đau đớn, được ra di một cách êm dém, không đau đớn.
Nó cũng giúp cho người thin và các y bác sĩ đang điều trị cho bệnh nhân giảm bớt cảm giác bat lực khi phải chứng kiên người thân, bệnh nhân của mình phải chịu đau đớn mà không thé làm gì Quyên an tử mang lại những ý ng†ĩa tốt lành từ pháp lý dén xã hội. Tuy nhién, dé thực hién quyền an tử một cách đúng dan và trách nhiệm, cần phi có các tiêu chuẩn rõ ràng và minh bạch. Đồng thời, xã hôi cũng phải đảm bảo rằng quyền an tử không bị lam dụng, và các quy định pháp luật can được thiết lập dé bảo vệ quyền lợi cho các bên liên quan. 1s CHƯƠNG 2: PHÁP LUAT CÁC QUOC GIA TREN THE GIỚI VA PHÁP LUAT VIET NAM VE QUYÈN AN TỪ 2.1 Pháp luật các quốc gia trên thế giớivề quyền an tử 2.1: Quan điểm các quốc gia trên thế giớivề quyền an tử © Quan điểm phản đối quyền an tử Hà Lan, một trong những dat nước đầu tiên thông qua quyên an tử, cũng đã tùng vập phải những ý kiên trái chiêu về an tử.
Cụ thể, Luke Gormally, một nha khoa học Hà Lan đã đưa ra nhũng lý do không nên hợp hợp pháp hóa quyên an tử như sau: 2 Một là, sự biện hộ cho cái chết tự nguyên bao ham cả sự từ chối giáo lý cơ bản dé thông nhật luật pháp trong xã hội Ông lý giải rằng trong xã hội, công lý doi hỏi mét cách đối xử công bằng và không phân biệt đối xử với con người. Dé tránh sự đôi xử không công bang ta cân coi tat cả con người đều có giá trị, đều có quyên được đối xử công bằng va được tôn. trong Nếu chúng ta chap nhân cái chết êm ả, điều này sẽ làm mat đi đặc điểm riêng của con người. Cái chết êm dém không phải là một cách chết tự nhiên, nên không thé chấp nhân nó nh mét phân của giá trị co ban của con người.
Vì vay, trong xã hội, pháp luật không thé đồng ý với việc yêu cầu được chết, và quyền sông của con người phải được bảo vệ. Việc noi cuộc đời của một người không còn giá trị cũng tương tự với việc chéi bỏ các giá trị của người đó, vì hiện thực của người đó gắn liên với cuộc đời của họ. Thử hỗ trợ an tử là các đánh giá dura trên các giá trị chung của cuộc đời nhật định Việc hop thức hóa hành vi giết người dua trên niém tin rằng mét vai cuộc sông không thực sự còn giá trị sẽ di ngược lai với bat kì hệ thông luật pháp nao muốn bảo vệ và duy trì một xã hôi công bang? Một ví du chứng minh cho luận điểm trên là vào ngày 26/07/2016, cả thé giới rung động trước vụ thẩm sát diễn ra tại Trung tâm người khuyết tật Tsukui Yamayurien, Kanagawa, Nhật Bản. Đã có 19 người chết, 25 người bị thương, Tất cả 2 Một số văn dé về quyên được chết doivei quá tinh xây đơng Luật An từ ở Việt Nam : công trinh dự thì gỗ thường“Sih viên nghiên cim khoa học”, hưng Daihoc, Luật Hà Nội `) Phạm Thi Hồng Mây (2016), Pháp luật một số mide về quyển được chết và bài học kult nghiệm cho Việt Non, Luận văn Thạc sĩ, Trường daihoc Luật Ha Nội B 1 đều là những người khuyết tat.
N ghi phạm được xác định là Satoshi Uematsu, 26 tuổi, nhân viên cũ của Trung tâm. Uematsu được xác đính là có dầu hiệu hoang tưởng, hắn đã tùng lập kê hoạch giệt chết 470 người tàn tật gũi tới chủ tịch Ha viên Quốc hội Nhật Bản vi cho rang sự tôn tại của họ chỉ thêm đau khô. Viéc kết thúc cuộc sông nảy là một hành vi nhân đạo cho những người này, đây sẽ là một cuộc cách mang nhằm. phục hồi nên kinh tệ thé giới.
An mang xây ra đã làm rung đông một dat nước được đánh gia là tương ôn. yên bình, phe phản đối an tử đã dựa vào điều nay để khẳng định: thừa nhận en tử đông nghiia với việc sẽ de doa sự tôn tại của những người yêu thé, khi mà giá trị sự tên tại của họ bị đem ra so sánh đối với những người khỏe mạnh bình thường, Hai là, hợp pháp hóa tu tử trợ giúp còn là một sự không nhất quán với giáo ly cơ bản của một cách thức hợp pháp. Sự đồng cảm với người bệnh có thé là nguén gộc của mong muốn giúp dé, nhung không thé giải quyết lo lang bang cách kết thúc cuộc đời của ho. Một điểm then chốt trong cuộc tranh luận về việc hợp pháp hóa an tử là việc giảm chi phi chăm sóc sức khỏe.
Một trong những hau quả dễ thay của việc hợp pháp an tử là chẳng may chốc ma an tử sẽ được coi là một biện pháp tiên lợi cho những bệnh nhân đặc trưng với lượng thuốc yêu câu cực lớn. Điêu này rat nguy hiém. Từ tình cảm đông cảm đến các chiên lược tính toán, đau khổ và cái chết có thé xảy ra nhanh chóng. Ban đầu có thé cóý định tốt đẹp, nhung sau đó nó có thé bị lạm dung để che đậy các mưu toan không thê đoán trước.
Ba là, nêu cái chết êm a tư nguyện được thông qua thi sau do hau hết các ly do có sức thuyết phục để phản đối thông qua cái chết ém 4 không tự nguyện đã bị từ bỏ. Nhiều người không dong ý thông qua cái chất êm 4 tư nguyên cũng đồng thời phản đối cái chết êm ả không tư nguyện Nhưng nêu chúng ta không thé đưa ra một ý kiên hợp lý cho việc yêu câu một cái chất âm ä là phủ hợp cho người được chết ma không dựa vào suy nghi rằng người đó còn có một cuộc sông đáng sống, lúc đó, những người chồng lai cái chết ôm a tự nguyện sẽ phản doi cái chết êm ä không tư nguyện nay. Khoảng cách từ cái chết tự nguyên dén không tự nguyên rất hẹp, do đó không nên thông qua cái chết êm a tự nguyện 30 Bồn là, sự thông qua cái chết âm ä tư nguyên sẽ khuyên khích hành đông cái chết êm a không tư nguyện. Ông đã chỉ ra rằng có hai hướng như sau: - Nó chứng tö rằng trong trường hop đó, những người nói ho mong muốn han chê hành đông của cái chết êm ä thành cái chết êm a tư nguyện sẽ nghi rằng nêu họ được cho cái chết êm a tự nguyện thì không có lý do nao tôn tại cho việc không đồng y cai chết êm ä không tự nguyên.
Do đó, họ bắt đầu đặt kê hoạch cho hoạt động có tính hệ thông của cái chết êm ä không tự nguyên. - Bởi vì tiêu chuẩn dé phân đính ranh giới hanh động của cai chết êm a và cái chết là yêu câu của bệnh nhân phải chứng tỏ được sự minh bach không thé cứu chữa của bệnh tình* Năm là, cái chết ém ä làm suy yêu dan những thiên chức của bác sỹ và vì thê có thé phá hỏng những truyền thống của y khoa. Việc hành nghệ y không thé thăng hoa nêu bác sĩ không tận tâm truyền niêm. tin cho bệnh nhân, đắc biệt là đôi với những người dé bị tôn thương Người bệnh: không thé tin tưởng vào những người trực tiếp điều tri cho minh cho đền khi họ hoàn toàn tin tưởng rang bác không có ý định giết ho.
Ho không thé đặt niém tin vào quyết định của bác sĩ về việc liệu họ đáng được cứu chữa hay không, thay vào đó họ đôi khi phải suy nghĩ về việc bác sĩ đang cân nhắc giữa việc chăm sóc hoặc điều trị và ý dinh không tốt. Điều nay đặt ra một thách thức lớn cho hệ thông y tế, yêu cau bác không chỉ có kiến thức chuyên muôn ma còn phải có khả nang giao tiệp và xây đựng lòng tin với bệnh nhân. Ngoài ra, còn một số lý do khác phản đổi quyên an tử như sau: An từ có thé làm suy yếu ý chí muốn chữa bệnh của các bệnh nhân: Tiệp cân với khái niêm về quyên an tử có thé gây ra một cuộc xung đột nội bộ trong tâm trí của các bénh nhân. Họ thường phải đối mat với su giảng xé giữa nổi so hai về những cơn đau va mong muốn tiệp tục sông bên gia đính và những người thân yêu.
Trong bối cảnh của mét xã hội tiép nhận quyên an tử, những người bệnh thường phải chịu thêm một gánh nặng tâm lý nang né, có thé ảnh hưởng trực tiếp đến ý chi của ho trong việc chién dau với bệnh tật va tiép tục cuộc sống. ?* Một số vin dé về quyền được chất đổi với quá trình xây dựng Luật An từ ở Việt Nam : công tinh đư thí gã: trông “Sd viên ngên cứuhoa học”, Đường Đạihọc Luật Hà Nội 3 An tử không chi ảnh hưởng đến những người mắc bệnh năng ma còn gây ra ap lực lớn đối với những người dé bị tôn thương như người giả và người khuyét tật. Những đổi tương này thường có sức khỏe không tốt và phụ thuộc vào người khác, dẫn đến cảm giác vô giá trị và gánh nặng cho gia đính và xã hội. So lượng người cao tuổi và người khuyết tật trải qua lạm dụng hoặc bỏ bê ngày cảng tăng, là minh chứng cho van đề nghiêm trong này.
Ngoài ra, việc đổi mat với một bác sĩ - người vên đ chỉ nên có trách nhiệm chữa trị - nhưng bây giờ lại phải đêm nhận cả trách nhiệm về quyên an tử, có thé làm cho bệnh rihân cảm thấy không yên tâm khi điều trị. Điều nay có thé gây ra những, tên thương tâm lý không mong muôn cho bệnh nhân, và gây ra su mat lòng tin vào hệ thông y tê An từ thực sự không cẩn thiết — đặc biệt là từ khi có sự ra đời của chăm sóc giảm nhẹ (palliative care) Chăm sóc giảm nhẹ (Palliative Care) không chỉ đơn thuần là việc chăm sóc nhimg người bệnh giai đoạn muôn như ung thư hay suy tim, suy thở, suy gan, suy than, mà còn bao gồm cả việc chăm sóc người nha và người chấm sóc người bệnh (caregiver). Mục tiêu của chấm sóc giảm nhe luôn luôn là tập trung vào chat lượng cuộc sóng của người bệnh, kết hợp với mục tiêu khác néu cân thiết.