Quy trình và thủ tục xem xét thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích quy trình và thủ tục xem xét dự án luật tại kỳ họp Quốc hội, cung cấp cái nhìn sâu sắc và chi tiết.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH, THỦ TỤC XEM XÉT, THÔNG QUA DỰ ÁN LUẬT TẠI KỲ HỌP QUỐC HỘI

1.1. Chức năng lập pháp và quy trình, thủ tục trong hoạt động lập pháp của Quốc hội

1.2. Chức năng lập pháp của Quốc hội

1.3. Quy trình, thủ tục trong hoạt động lập pháp của Quốc hội

1.4. Quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

1.4.1. Xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

1.4.2. Khái niệm xem xét, thông qua dự án luật

1.4.3. Đối tượng được xem xét, thông qua

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY TRÌNH, THỦ TỤC XEM XÉT, THÔNG QUA DỰ ÁN LUẬT TẠI KỲ HỌP QUỐC HỘI

2.1. Sơ lược về sự phát triển các quy định của pháp luật về quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1992

2.3. Giai đoạn từ năm 1992 đến nay

2.4. Quy định của pháp luật hiện hành về quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

2.5. Thuyết trình về dự án luật

2.6. Trình bày báo cáo thẩm tra

2.7. Thảo luận về dự án luật

2.8. Biểu quyết thông qua dự thảo luật

2.9. Thực trạng áp dụng quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

2.9.1. Thuyết trình về dự án luật

2.9.2. Trình bày báo cáo thẩm tra

2.9.3. Thảo luận về dự án luật

2.9.4. Biểu quyết thông qua dự thảo luật

2.10. Một số nhận xét về thực trạng xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI QUY TRÌNH, THỦ TỤC XEM XÉT, THÔNG QUA DỰ ÁN LUẬT TẠI KỲ HỌP QUỐC HỘI

3.1. Sự cần thiết của việc đổi mới quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

3.2. Nguyên tắc chỉ đạo trong việc đổi mới quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

3.3. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng

3.4. Phát huy dân chủ trong quá trình xem xét, thông qua dự án luật

3.5. Bảo đảm sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong hoạt động lập pháp của Quốc hội

3.6. Bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

3.7. Bảo đảm nguyên tắc khoa học, khách quan

3.8. Giải pháp tiếp tục đổi mới quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội

3.8.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật

3.8.2. Đổi mới về tổ chức

3.8.3. Cải tiến một số công tác khác

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

SƠ ĐỒ QUY TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT CỦA QUỐC HỘI (từ khi lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đến khi được thông qua)

DANH MỤC LUẬT ĐÃ ĐƯỢC QUỐC HỘI BAN HÀNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về quy trình và thủ tục xem xét dự án luật tại Quốc hội Việt Nam

Quy trình và thủ tục xem xét dự án luật tại Quốc hội Việt Nam là một phần quan trọng trong hoạt động lập pháp. Quốc hội, với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, có trách nhiệm thực hiện chức năng lập pháp thông qua việc xem xét và thông qua các dự án luật. Quy trình này không chỉ đảm bảo tính minh bạch mà còn thể hiện sự dân chủ trong việc xây dựng pháp luật. Việc nghiên cứu quy trình này giúp hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của Quốc hội và vai trò của nó trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền.

1.1. Khái niệm và vai trò của quy trình xem xét dự án luật

Quy trình xem xét dự án luật là các bước mà Quốc hội thực hiện để đánh giá và thông qua các dự án luật. Quy trình này bao gồm nhiều giai đoạn từ việc đưa dự án vào chương trình xây dựng luật, soạn thảo, thẩm tra, đến việc thảo luận và biểu quyết. Vai trò của quy trình này là đảm bảo rằng các dự án luật được xem xét một cách kỹ lưỡng, từ đó nâng cao chất lượng của các văn bản pháp luật.

1.2. Các bước trong quy trình xem xét dự án luật

Quy trình xem xét dự án luật tại Quốc hội bao gồm các bước chính như: đưa dự án vào chương trình, soạn thảo dự án, thẩm tra dự án, thảo luận tại kỳ họp, và cuối cùng là biểu quyết thông qua. Mỗi bước đều có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo rằng dự án luật được xem xét một cách toàn diện và có sự đồng thuận cao từ các đại biểu Quốc hội.

II. Những thách thức trong quy trình xem xét dự án luật tại Quốc hội

Mặc dù quy trình xem xét dự án luật tại Quốc hội đã được quy định rõ ràng, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong thực tiễn. Những thách thức này có thể ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của quy trình lập pháp. Việc nhận diện và giải quyết những thách thức này là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

2.1. Thiếu minh bạch trong quy trình xem xét

Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu minh bạch trong quy trình xem xét dự án luật. Điều này có thể dẫn đến sự nghi ngờ từ phía công chúng về tính hợp pháp và công bằng của các quyết định được đưa ra. Cần có các biện pháp để tăng cường tính minh bạch, như công bố thông tin đầy đủ về các dự án luật và quy trình thảo luận.

2.2. Sự tham gia hạn chế của các bên liên quan

Sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm cả người dân và các tổ chức xã hội, trong quy trình xem xét dự án luật còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc các ý kiến và nhu cầu của cộng đồng chưa được phản ánh đầy đủ trong các dự án luật. Cần có các cơ chế để khuyến khích sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình lập pháp.

III. Phương pháp cải tiến quy trình xem xét dự án luật tại Quốc hội

Để nâng cao hiệu quả của quy trình xem xét dự án luật, cần có những phương pháp cải tiến cụ thể. Những cải tiến này không chỉ giúp nâng cao chất lượng của các dự án luật mà còn tăng cường sự tin tưởng của công chúng vào hoạt động lập pháp của Quốc hội.

3.1. Tăng cường đào tạo cho đại biểu Quốc hội

Đào tạo cho các đại biểu Quốc hội về quy trình lập pháp và các kỹ năng cần thiết là rất quan trọng. Việc này giúp họ có thể thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc xem xét và thông qua các dự án luật, từ đó nâng cao chất lượng của quy trình lập pháp.

3.2. Cải tiến quy trình thẩm tra dự án luật

Cải tiến quy trình thẩm tra dự án luật là cần thiết để đảm bảo rằng các dự án luật được đánh giá một cách toàn diện và khách quan. Cần có các tiêu chí rõ ràng và quy trình thẩm tra minh bạch để nâng cao chất lượng của các báo cáo thẩm tra.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quy trình xem xét dự án luật

Việc nghiên cứu quy trình xem xét dự án luật không chỉ mang lại những hiểu biết lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn. Những kết quả nghiên cứu có thể giúp cải thiện quy trình lập pháp và nâng cao chất lượng của các văn bản pháp luật.

4.1. Kinh nghiệm từ các nước khác

Nghiên cứu kinh nghiệm từ các nước khác trong việc xem xét dự án luật có thể cung cấp những bài học quý giá cho Quốc hội Việt Nam. Các nước có quy trình lập pháp hiệu quả thường có sự tham gia cao của công chúng và các bên liên quan, điều này có thể được áp dụng tại Việt Nam.

4.2. Đánh giá tác động của quy trình lập pháp

Đánh giá tác động của quy trình lập pháp đến đời sống xã hội là rất quan trọng. Cần có các nghiên cứu để xác định xem các dự án luật đã được thông qua có thực sự đáp ứng nhu cầu của người dân hay không, từ đó điều chỉnh quy trình cho phù hợp.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho quy trình xem xét dự án luật

Quy trình xem xét dự án luật tại Quốc hội Việt Nam cần được cải tiến để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Việc nâng cao chất lượng quy trình này không chỉ giúp cải thiện hoạt động lập pháp mà còn tăng cường sự tin tưởng của người dân vào Quốc hội.

5.1. Tầm quan trọng của việc cải cách quy trình lập pháp

Cải cách quy trình lập pháp là cần thiết để đảm bảo rằng Quốc hội có thể thực hiện tốt chức năng lập pháp của mình. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng của các văn bản pháp luật mà còn tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình lập pháp.

5.2. Định hướng tương lai cho quy trình xem xét dự án luật

Định hướng tương lai cho quy trình xem xét dự án luật cần tập trung vào việc tăng cường tính minh bạch, khuyến khích sự tham gia của các bên liên quan và cải tiến quy trình thẩm tra. Những định hướng này sẽ giúp Quốc hội thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quy trình thủ tục xem xét thông qua dự án luật tại kỳ họp quốc hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH, THỦ TỤC XEM XÉT, THÔNG QUA DỰ ÁN LUẬT TẠI KỲ HỌP QUỐC HỘI 1. Chức năng lập pháp và quy trình, thủ tục trong hoạt động lập pháp của Quốc hội 1. Chức năng lập pháp của Quốc hội Lập pháp là một trong những chức năng cơ bản của Quốc hội nƣớc ta. Với tƣ cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

Điều đó cũng có nghĩa rằng, ở nƣớc ta, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền thể chế hóa chủ trƣơng đƣờng lối của Đảng, biến ý chí của nhân dân thành ý chí nhà nƣớc, thành luật, thành các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội. Trong lịch sử nhà nƣớc và pháp luật quyền lập pháp đƣợc hình thành và phát triển theo sự phát triển của học thuyết tổ chức quyền lực. Theo Monstesquieu và những nhà sáng lập ra thuyết tam quyền phân lập thì quyền lập pháp ra đời gắn liền với nguyên tắc phân quyền - một trong những nguyên tắc cơ bản tổ chức quyền lực nhà nƣớc. Quan điểm của những ngƣời xây dựng học thuyết phân quyền khẳng định: quyền lực nhà nƣớc phải đƣợc phân chia thành những loại quyền lực khác nhau và do các cơ quan nhà nƣớc khác nhau nắm giữ.

Quyền lập pháp phải do một cơ quan bao gồm nhiều ngƣời xây dựng lên, cơ quan có quyền lập pháp không thực thi quyền hành pháp và tƣ pháp. Về bản chất, quyền lập pháp là quyền cao nhất trong các loại quyền lực. Ở Việt Nam tất cả quyền lực Nhà nƣớc thuộc về nhân dân, nhân dân 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện quyền lực nhà nƣớc thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Quốc hội là nơi tập trung trí tuệ toàn dân, là cơ quan nhà nƣớc duy nhất do cử tri cả nƣớc bầu ra, Quốc hội thay mặt nhân dân quyết định và thực hiện quyền lực nhà nƣớc thống nhất trong cả nƣớc.

Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, những vấn đề trọng đại của đất nƣớc. Chỉ có Quốc hội mới có quyền định ra các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản. Các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nƣớc khác phải căn cứ vào quy định của Hiến pháp, luật và không đƣợc trái với quy định của Hiến pháp, luật. Hoạt động lập pháp là hoạt động cơ bản nhất điều chỉnh mọi hoạt động đang diễn ra trong xã hội và ở hoạt động này Quốc hội thể hiển rõ vai trò, vị trí, thực quyền của mình, không ai có thế thay thế.

Trên phƣơng diện đó, Quốc hội là cơ quan cao nhất điều chỉnh mọi hoạt động xã hội. Chức năng lập hiến và lập pháp của Quốc hội đã đƣợc quy định khá rõ nét trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992. Ngoài Hiến pháp 1946 quy định ở nguyên tắc chung “Nghị viện nhân dân đặt ra các pháp luật” (Điều thứ 23), thì cả 3 bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều khẳng định Quốc hội là “cơ quan duy nhất có quyền lập pháp”. Qua mỗi bản Hiến pháp, chức năng lập pháp của Quốc hội đƣợc kế thừa, phát triển và ngày càng đƣợc làm rõ, đƣợc quy định cụ thể hơn.

Đặc biệt từ Hiến pháp 1992, về mặt pháp lý cũng nhƣ trên thực tế, quyền lập pháp của Quốc hội từng bƣớc đƣợc hoàn thiện. Quy trình, thủ tục trong hoạt động lập pháp của Quốc hội Trong hệ thống các văn bản pháp luật, các luật do Quốc hội thông qua là những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, có giá trị pháp lý cao, điều chỉnh các vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực của đời sống xã hội. Để ban hành đạo 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật, Quốc hội phải tiến hành nhiều hoạt động khác nhau theo quy trình, thủ tục nhất định đƣợc quy định trong Luật ban ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và các quy chế, nội quy làm việc của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội. Theo đó văn bản luật đƣợc ban hành thông qua các bƣớc liên tục, kế tiếp nhau: quyết định đƣa dự án luật vào Chƣơng trình xây dựng luật, pháp lệnh, soạn thảo dự án luật, thẩm tra dự án luật, Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, xem xét, thông qua dự án luật, công bố luật.

Trong đó quyết định đƣa dự án vào Chƣơng trình có thể coi là bƣớc đầu tiên trong quy trình xây dựng luật theo nghĩa rộng. Soạn thảo dự án luật là bƣớc tiếp theo có tính chất làm cơ sở cho bƣớc thẩm tra. Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật trên cơ sở hồ sơ dự án của cơ quan soạn thảo và báo cáo thẩm tra là bƣớc kế tiếp. Không có các bƣớc này thì không thể có bƣớc xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp và tiếp theo là bƣớc công bố luật.

Mỗi bƣớc có quy trình, thủ tục riêng, có vai trò riêng và giữa các bƣớc có mối quan hệ hữu cơ với nhau, nhƣng quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật là một trong những khâu độc lập và quan trọng thể hiện rõ nét vai trò của Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập pháp. Quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội Hoạt động xem xét, thông qua dự án luật và quy trình, thủ tục xem xét, thông qua dự án luật là hai mặt của một vấn đề có quan hệ biện chứng với nhau. Không thể nói đến hoạt động xem xét, thông qua nếu không nói đến quy trình, thủ tục xem xét, thông qua và ngƣợc lại. Hoạt động xem xét, thông qua dự án luật cần phải đƣợc thực hiện theo quy trình, thủ tục nhất định.

Quy 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình, thủ tục góp phần cho hoạt động xem xét, thông qua luật đƣợc vận hành hiệu quả, kịp thời theo những mục đích, yêu cầu mà hoạt động xem xét, thông qua luật hƣớng tới. Xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội 1. Khái niệm xem xét, thông qua dự án luật Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “xem xét” đƣợc hiểu là “tìm hiểu, quan sát kỹ để đánh giá, rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết” [49, tr.1147], “thông qua” đƣợc hiểu là việc “cơ quan hoặc người có thẩm quyền đồng ý chấp thuận cho được thực hiện, sau khi đã xem xét, thảo luận” [49, tr. Việc xem xét dự án luật tại kỳ họp Quốc hội là một mắt xích quan trọng thể hiện tính công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng luật để làm sáng tỏ tính khách quan của dự án luật.

Việc xem xét dự án luật tại kỳ họp tác động đến mọi vấn đề của dự án luật, có thể làm thay đổi toàn bộ dự án và là cơ sở để Quốc hội thông qua dự thảo luật. Thông qua dự án luật là một thủ tục pháp lý kết thúc quy trình xây dựng luật mà chỉ Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất mới có thẩm quyền này. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo luật trên cơ sở căn cứ vào kết quả thảo luận, vào chính kiến của từng cá nhân đại biểu. Trong quy trình, thủ tục xây dựng luật thì thông qua dự án luật là quy trình đƣa một dự thảo luật trở thành luật.

Việc xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội có ý nghĩa quan trọng tạo nên chất lƣợng của các văn bản luật. Những vấn đề đƣợc đƣa ra thảo luận, xem xét và thông qua tại các kỳ họp Quốc hội đều là những vấn đề hệ trọng ở tầm quốc gia, đòi hỏi trí tuệ tập thể của các đại biểu Quốc hội phải đƣợc huy động tối đa để đi đến những quyết định đúng đắn, sáng suốt, trên cơ sở bảo đảm tính dân chủ trong thảo luận và biểu quyết theo đa số. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đối tượng được xem xét, thông qua: Trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đang sử dụng các thuật ngữ khác nhau là “thông qua dự thảo luật”, “xem xét, thông qua dự án luật”. Khái niệm “dự án luật” là khái niệm rộng, bao gồm dự thảo luật, tờ trình, các tài liệu khác.

Trong đó, các tài liệu kèm theo dự thảo luật có mục đích là thuyết minh làm rõ các nội dung của dự thảo, làm căn cứ để đại biểu Quốc hội tham khảo khi thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo luật. Theo quy định của Luật ban hành văn bản hiện hành thì đối tƣợng của hoạt động xem xét, thông qua dự án luật là dự thảo luật, tờ trình, các tài liệu khác, còn đối tƣợng thông qua trong hoạt động biểu quyết thông qua luật là dự thảo luật. Tuy nhiên, không phải mọi dự án luật đều là đối tƣợng của hoạt động xem xét, thông qua tại kỳ họp Quốc hội mà chỉ có dự án luật đã đƣợc Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra, Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội xem xét và quyết định trình Quốc hội mới là đối tƣợng xem xét, thông qua tại kỳ họp Quốc hội. - Phạm vi của hoạt động xem xét, thông qua dự án luật: Phạm vi xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội là cả một quá trình.

Theo các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn này bao gồm tất cả các hoạt động từ thuyết trình Tờ trình về dự án luật, trình bày báo cáo thẩm tra, thảo luận về dự án luật tại kỳ họp, biểu quyết về những vấn đề cơ bản, những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau, chỉnh lý dự thảo luật, báo cáo Quốc hội về việc chỉnh lý, biểu quyết thông qua dự thảo luật và gọi là “xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội” (Điều 51, 52, 53 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật). - Chủ thể xem xét, thông qua dự án luật: Trong giai đoạn xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ