Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây Đông hầu vàng 1. Đặc điểm phân loại và đặc điểm sinh học Cây Đông hầu vàng có tên tiếng Anh là Yellow Turnera, Yellow Alder, Yellow Elder, West Indian Holly hay Sage Rose.
Tên tiếng Việt là Đông hầu vàng, Kim ngân, Dừa thái vàng hay Dừa vàng. Tên khoa học là Turnera ulmifolia, là một loài thực vật thuộc chi Đông hầu (Turnera), phân họ Hoa thời chung hay phân họ Đông hầu (Turneroideae), họ Lạc tiên (Passifloraceae) (trước đây chi này được đặt trong họ Đông hầu (Turneraceae), bộ Sơ ri (Malpighiales) [2], [6]. Cây Đông hầu vàng có nguồn gốc từ Châu Mỹ. Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhất là châu Mỹ và châu Phi có 20 họ và 120 loài.
Một số loài thuộc chi Đông hầu như Turnera arcuata, Turnera angustifolia Mill., Turnera aurelii, Turnera caerulea, Turnera candida, Turnera chamaedryfolia, Turnera difusa Willd., Turnera velutina, Turnera weddelliana…[44]. Cây Đông hầu vàng Các cây thuộc họ Đông hầu từ lâu đã được biết đến như một loại thảo dược nổi tiếng ở châu Mỹ với công dụng tăng cường sức khỏe sinh sản, được người Maya cổ và người Mexico sử dụng rộng rãi. Y học hiện đại thì coi đây như một loại trà kích thích khả năng sinh lý. Lá Đông hầu còn có lợi ích tốt cho phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, giảm chuột rút, mệt mỏi, lo lắng và đau đầu 3 download by : skknchat@gmail.com do khả năng điều tiết và cân bằng nội tiết tố nữ [40].
Đại diện duy nhất của họ này tại Việt Nam là cây Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia) có nguồn gốc ở Mexico và Tây Ấn [42]. Cây Đông hầu vàng là một loại cây có phân bố địa lý rộng. Cây được nhập cư rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây thích nghi với nhiều loại đất, điều kiện môi trường và có khả năng sinh sản cao nên định cư được ở các môi trường sống mới.
Sự phân tán hạt trong loài này là do khả năng thu hút kiến làm cho những con kiến vận chuyển hạt giống trong khoảng cách tương đối ngắn tạo thuận lợi cho việc hình thành quần thể dày đặc và tăng khả năng tạo ra hạt [16], [18], [45]. Cây Đông hầu vàng là cây bụi nhỏ, cao khoảng 1m, phân nhiều cành. Lá đơn, mọc so le, hình trái xoan hẹp, dài khoảng 5-6cm, rộng 2,5cm, hai đầu nhọn, mép khía răng cưa nhọn, gân lá hình lông chim, nổi rõ, gốc phiến lá có 2 tuyến nhỏ, cuống ngắn có lông mềm, vò lá có mùi hăng nhẹ [6]. Hoa cây Đông hầu vàng là hoa đơn, thường nở vào buổi sáng, tàn vào buổi trưa, hoa mẫu năm, đường kính hoa 5-6cm, cuống ngắn, mọc ra từ cuống lá, 2 lá bắc hẹp dài, 5 lá đài hình mũi mác nhọn, do các lá đài và cánh hoa họp lại tạo thành, các thùy của tràng xếp vặn, nhị 5 xen kẽ với cánh hoa và không có vành phụ, vòi nhụy rời và xẻ nhiều ở đỉnh (mỗi vòi có dạng bút lông), 5 cánh hoa hình bầu dục, màu vàng, mặt trong gốc cánh hoa màu vàng nâu, có 5 nhị rời và bầu nhẵn.
Ra hoa quanh năm, rộ nhất vào mùa hè [6]. Hoa và hạt cây Đông hầu vàng 4 download by : skknchat@gmail.com Quả Đông hầu vàng có hình cầu, nhiều hạt, quả bế, khi già nở tung tạo điều kiện cho hạt phát tán ở khảng cách ngắn [41]. Hạt Đông hầu vàng nhỏ, màu nâu sẫm, nảy mầm vào mùa xuân, được bảo quản ở nhiệt độ thường. Giá trị cây Đông hầu vàng Cây Đông hầu vàng có hương thơm nồng, vị hơi đắng.
Lá được dùng làm hương liệu cho mùi rượu. Ở Mexico, người ta dùng để thay thế cho cây trà. Tác dụng của cây là bồi bổ, xổ nhẹ và lợi tiểu, chống suy nhược, làm thuốc kéo dài tuổi thanh xuân cho cả nam và nữ [41], [46]. Thành phần chính của cây Đông hầu vàng gồm: Flavonoid (22 hợp chất khác nhau), arbutin (chiếm 7%), tinh dầu (khoảng 0,5%), deltacadinee (10%), thymol (4%), cyanogenic glycosides (tetraphyllin, 7 hợp chất khác nhau), maltol glucoside, phenolics, monoterpenoids, sesquiterpenoid, triterpenoid, polyterpene ficaprenol-11, axit béo, caffeine, ethanol, nhựa thông, chất nhựa, alkaloid [34], [38], [46].
Flavonoid có tác dụng chống đông máu, phòng ngừa viêm loét niêm mạc dạ dày và tá tràng, giảm thương tổn dạ dày do sự kết hợp của indomethacin và bethanechol, giảm chứng loét dạ dày do stress gây ra [24]. Khả năng kích thích tình dục có thể do một loại alkaloid trong cây thuốc có tác dụng như hormone sinh dục testosterone ở nam [48]. Dịch chiết Đông hầu vàng có khả năng bảo vệ gan, chống lại tổn thương gan gây bởi carbon tetrachloride [46]. Arbutin trong cây Đông hầu vàng có tác dụng làm trắng da nhờ khả năng ức chế enzyme sản sinh melanin mà không có tác dụng phụ, chống lão hóa và ngăn các gốc tự do.
Tinh dầu giúp tinh thần sảng khoái, giảm đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, chống nhiễm trùng, làm căng da, mịn da [41]. Cây Đông hầu vàng chứa chất thymol có tác dụng kích thích lên cơ thể và giúp hồi phục hệ thần kinh. Chất này được dùng cho các bệnh nhân bị bệnh suy nhược hay suy nhược thần kinh ở mức độ nhẹ cho đến vừa phải [41]. 5 download by : skknchat@gmail.com Cây Đông hầu vàng có khả năng cải thiện sức khỏe sinh sản, giúp trị xuất tinh sớm và bất lực ở nam, điều hòa nội tiết và kinh nguyệt ở nữ [41].
Cây Đông hầu vàng có đặc tính lợi tiểu và khử trùng nước tiểu, do đó nó được dùng để trị các bệnh nhiễm trùng các cơ quan tiết niệu như bệnh viêm bàng quang, viêm ống dẫn nước tiểu. Bên cạnh đó, chất nhựa trong cây có tác dụng như dịch vị dạ dày giúp tiêu hóa tốt, do đó, cây cũng được dùng để trị bệnh táo bón do cơ ruột co bóp kém [24], [46]. Chiết xuất của Đông hầu vàng (Turnera ulmifolia) cùng với Parkia platycephala Benth và Dimorphandra Gardneriana được sử dụng trong chống nhiễm trùng giun sán ở các loại gia súc nhai lại nhỏ như ở dê [31]. Chiết xuất từ Đông hầu vàng và Mentha arvensis L.
khi kết hợp với thuốc chống nấm Metronidazole làm cho khả năng kháng nấm Candida tropicalis được tăng cường [36]. Cao Đông hầu được cô đặc từ hơn 7 loại cây thuốc quý hiếm như Đông hầu vàng, Thành ngạnh, Dây cóc,… có tác dụng làm căng da, mờ nhăn, kích thích quá trình tăng sinh collagen gấp 8 lần so với bình thường, phục hồi da, làm trẻ hóa da và chống lão hóa, làm se khít lỗ chân lông, cân bằng độ ẩm và trị mụn hiệu quả cao [49]. Ngoài ra, các loài trong chi Đông hầu còn được sử dụng để điều trị các bệnh như thiếu máu, viêm phế quản, ho, tiểu đường, giảm đau, phổi và các bệnh đường hô hấp, rối loạn da [46]. Cây thuốc, vị thuốc Đông hầu vàng có thể có những dạng bào chế như thuốc viên, bột, cao, trà, rượu thuốc.
Cây thuốc này thường được dùng kết hợp với các thuốc khác để tăng cường tác dụng của thuốc. Liều dùng khác nhau đối với từng bệnh nhân, lứa tuổi và tình trạng sức khỏe. Thuốc không được dùng cho trẻ em, phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú, những người bị bệnh gan, tiểu đường hoặc quá mẫn cảm với các thành phần trong cây [48]. 6 download by : skknchat@gmail.
Tình hình nghiên cứu cây Đông hầu vàng trên thế giới và ở Việt Nam Công trình nghiên cứu đầu tiên về đặc tính viagra của cây Damiana (thuộc họ Đông hầu) (1999) cho thấy rằng sức khỏe sinh sản của chuột được cải thiện khi được uống chất chiết từ cây này[41]. Năm 2002, theo các nhà khoa học Brazil, hoạt chất chủ yếu của cây Đông hầu vàng (ở thân và lá) là các hợp chất flavonoid, có tác dụng chống oxy hóa và chống các vết loét. Thử trên chuột, cho thấy hoạt chất của cây này có tác dụng phòng chống viêm loét dạ dày và hành tá tràng. Trong bệnh viêm loét dạ dày do stress, chất chiết trong môi trường nước của cây này cũng có tác dụng làm giảm từ 50-58% với liều 0,5-1 g/kg thể trọng.
Các kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm phù hợp với kinh nghiệm dân gian ở Brazil là dùng trà Đông hầu vàng để chữa các bệnh chủ yếu liên quan đến viêm loét dạ dày và hành tá [24]. Năm 2006, các nhà khoa học thuộc Khoa Phân tích lâm sàng và Chất sinh học Brazil đã nghiên cứu sơ bộ về hoạt động chống oxi hóa của Turnera ulmifolia. Nghiên cứu sử dụng chiết xuất hydroethanol 50% được đánh giá bằng hệ thống oxy hóa kết hợp axit beta-carotene/linoleic để ức chế quá trình oxy hóa và ức chế peroxidation lipid ở chuột đồng, có sử dụng các chất phản ứng thiobarbituric acid và chemiluminescence. Kết quả cho thấy chiết xuất này có hoạt tính chống oxy hoá (77,4 ± 10%) cao hơn alpha-tocopherol (vitamin E) (58,4 ± 3,7%) [30].
Cũng trong năm 2006, các nhà khoa học thuộc Khoa Dược, Đại học Granada, Tây Ban Nha đã nghiên cứu về hoạt tính kháng viêm đường ruột của thân, lá Đông hầu vàng. Nghiên cứu được thử nghiệm trong mô hình viêm đại tràng chuột do axit trinitrobenzenesulphonic (TNBS) gây ra. Kết quả thu được cho thấy việc sử dụng chiết xuất Turnera ulmifolia đối với chuột cống ở 250 và 500 mg/kg, làm giảm đáng kể tổn thương đại tràng gây ra bởi TNBS. Tác dụng có lợi này có liên quan đến sự cải thiện tình trạng oxy hóa đại tràng, hiệu quả 7 download by : skknchat@gmail.com phòng ngừa do truyền tĩnh mạch của Turnera ulmifolia trong mô hình TNBS của bệnh viêm đại tràng ở chuột có lẽ liên quan đến tính chất chống oxy hoá do hàm lượng flavonoid có trong cây [23].
Năm 2009, hai nghiên cứu về khả năng kháng sinh trên các chủng vi khuẩn đã kháng thuốc kháng sinh nhóm aminoglycosides. Dựa trên các kết quả thực nghiệm đã chứng minh, dịch chiết từ cây Đông hầu vàng có khả năng diệt các chủng Escherichia coli và Staphylococcus aureus đã kháng kháng sinh nhóm aminoglycosides và có tác dụng hiệp đồng khi dùng kết hợp cùng với các loại thuốc kháng sinh như kanamycin, gentamicin, neomycin, tobramycin và amikacin [20], [21]. Năm 2012, Brito và cs (Đại học Liên bang Rio Grande do Norte, Brazil) đã nghiên cứu về khả năng chống oxy hóa (chống carbon tetrachloride gây oxy hóa) và tác dụng bảo vệ của Đông hầu vàng ở chuột. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chất glutathione và hoạt động của enzyme chống oxy hóa (glutathione peroxidase, superoxide dismutase và catalase) đã được tăng cường đáng kể trong chuột do uống thuốc được chiết từ lá Đông hầu vàng và có sự hiện diện của chất flavonoid, là chất trung gian ảnh hưởng của stress oxy hóa [19].