Mở đầu của BCKT. BCTC là đối tượng của cuộc kiểm toán, ghi rõ ngày và niên độ lập BCTC; Khẳng định rõ ràng việc lập BCTC là thuộc trách nhiệm của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán trên các mặt: Tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán, các ước tính kế toán thích hợp; Trách nhiệm của KTV là kiểm tra các thông tin định lượng trên BCTC và đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả kiểm toán của mình; 8 SVTH: Phan Thị Quỳnh Như Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc - Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán. Phải nêu chuẩn mực kiểm toán và kế hoạch kiểm toán đã áp dụng để thực hiện cuộc kiểm toán; Phải nêu những công việc và thủ tục kiểm toán mà KTV đã thực hiện; Phải nêu rõ là cuộc kiểm toán đã cung cấp những cơ sở hợp lý để làm căn cứ cho ý kiến của KTV.
- Ý kiến của kiểm toán viên. - Địa điểm và thời gian lập BCKT. - Chữ ký và đóng dấu. Các ý kiến kiểm toán 1.
Ý kiến chấp nhận toàn phần BCKT đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần được trình bày trong trường hợp KTV và công ty kiểm toán cho rằng BCTC phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành (hoặc được chấp nhận). Trong trường hợp, BCTC được kiểm toán có những sai sót nhưng đã được KTV phát hiện và đơn vị đã điều chỉnh theo ý kiến của KTV; BCTC sau khi điều chỉnh đó được KTV đưa ra ý kiếm chấp nhận toàn phần. Khi đưa ra ý kiến trên BCKT là ý kiến chấp nhận toàn phần đối với BCTC được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, trừ khi pháp luật có quy định khác, KTV phải sử dụng mẫu câu sau: “Báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu,.phù hợp với (khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng)”. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và BCKT về BCTC.
Ý kiến không phải chấp nhận toàn phần (ý kiến ngoại trừ) Được đưa ra trong trường hợp KTV cho rằng không thể đưa ra ý kiến chấp toàn phần, và những phần không chấp nhận do không đồng ý với Giám đốc hay do công việc kiểm toán bị giới hạn, là quan trọng nhưng không liên quan tới một số lượng lớn các khoản mục tới mức có thể dẫn đến ý kiến từ chối hoặc ý kiến trái ngược. Cụ thể: 9 SVTH: Phan Thị Quỳnh Như Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần “KTV trình bày “ý kiến kiểm toán ngoại trừ” khi đã dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, kiểm toán viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính; hoặc Kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính. Ý kiến từ chối (không thể đưa ra ý kiến) Được đưa ra trong trường hợp hậu quả của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục tới mức mà kiểm toán viên không thể cho ý kiến về BCTC.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần “Kiểm toán viên phải từ chối đưa ra ý kiến khi kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán và kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có), có thể là trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính. Trong một số rất ít trường hợp liên quan đến nhiều yếu tố không chắc chắn, kiểm toán viên phải từ chối đưa ra ý kiến khi mặc dù đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến từng yếu tố không chắc chắn riêng biệt, nhưng kiểm toán viên vẫn kết luận rằng không thể đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính do những ảnh hưởng tương tác có thể có của những yếu tố không chắc chắn và những ảnh hưởng lũy kế của những yếu tố này đến báo cáo tài chính. Ý kiến không chấp nhận (ý kiến trái ngược) Được đưa ra trong trường hợp các vấn đề không thống nhất với Giám đốc là quan trọng hoặc liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục đến mức độ mà KTV cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọng yếu của BCTC. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần “Kiểm toán viên phải trình bày “ý kiến kiểm toán trái 10 SVTH: Phan Thị Quỳnh Như Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Phạm Thị Bích Ngọc ngược” khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, kiểm toán viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính. Trình tự lập và phát hành Báo cáo kiểm toán Báo cáo tài chính 1. Kiểm tra các nội dung khác KTV sẽ tiến hành kiểm tra các nội dung khác như: - Kiểm tra tính tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan; - Soát xét các bút toán tổng hợp; - Kiểm toán năm đầu tiên – số dư đầu năm; - Soát xét giao dịch với các bên có liên quan; - Kiểm tra các thông tin khác có trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán; - Soát xét thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và sai sót. Đảm bảo thực hiện đầy đủ các phần hành đều được kiểm toán, nhằm hạn chế rủi ro trong kiểm toán và đưa ra ý kiến kiểm toán một cách chính xác hơn.
Xem xét nợ tiềm tàng Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 18: Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng – “Nợ tiềm tàng là Nghĩa vụ nợ có khả năng phát sinh từ các sự kiện đã xảy ra và sự tồn tại của nghĩa vụ nợ này sẽ chỉ được xác nhận bởi khả năng hay xảy ra hoặc không hay xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai mà doanh nghiệp không kiểm soát được; hoặc nghĩa vụ nợ hiện tại phát sinh từ các sự kiện đã xảy ra nhưng chưa được ghi nhận vì: Không chắc chắn có sự giảm sút về lợi ích kinh tế do việc phải thanh toán nghĩa vụ nợ hoặc Giá trị của nghĩa vụ nợ đó không được xác định một cách đáng tin cậy.” Các khoản nợ tiềm tàng bao gồm: - Các vụ kiện đang chờ xét xử; - Các tranh cải về thuế; - Các giá trị bảo lãnh về sản phẩm mà doanh nghiệp đã cam kết với người tiêu dùng; - Các bảo lãnh công nợ; - Các thương phiếu đã chiết khấu; - Các thư tín dụng mở còn hiệu lực. 11 SVTH: Phan Thị Quỳnh Như Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc 1. Xem xét các sự kiện phát sinh sau niên độ kế toán "Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán: Là những sự kiện phát sinh kể từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán đến ngày lập báo cáo kiểm toán và những sự việc mà kiểm toán viên biết được sau ngày lập báo cáo kiểm toán” Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560: Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán.
Trong giai đoạn này, KTV phải “Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về việc liệu các sự kiện phát sinh từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán đến ngày lập báo cáo kiểm toán cần được điều chỉnh hoặc thuyết minh trong báo cáo tài chính, đã được phản ánh phù hợp trong báo cáo tài chính đó theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay chưa; Xử lý một cách thích hợp đối với những sự việc mà kiểm toán viên biết được sau ngày lập báo cáo kiểm toán, mà nếu các sự việc này được biết đến tại ngày lập báo cáo kiểm toán thì có thể làm cho kiểm toán viên phải sửa đổi báo cáo kiểm toán.” Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560: Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán. Đánh giá khả năng hoạt động liên tục “Một đơn vị được xem là hoạt động liên tục trong tương lai có thể dự đoán được. Báo cáo tài chính cho mục đích chung được lập trên cơ sở hoạt động liên tục, trừ khi Ban Giám đốc có ý định hoặc do nguyên nhân khác buộc phải ngừng hoạt động hoặc giải thể đơn vị. Báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt có thể được lập theo khuôn khổ hoặc không theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính có quy định về cơ sở hoạt động liên tục” – Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 570: Hoạt động liên tục.
Mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn này là: “Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về tính hợp lý của giả định hoạt động liên tục mà Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đã sử dụng khi lập và trình bày báo cáo tài chính; Dựa trên các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được, kết luận về việc liệu có còn yếu tố không chắc chắn trọng yếu nào liên quan tới các sự kiện hoặc điều kiện có thể dẫn đến nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán; Xác định ảnh hưởng đến báo cáo kiểm toán.” Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 570: Hoạt động liên tục. 12 SVTH: Phan Thị Quỳnh Như Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc 1.