Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính Ngô Thị Hồng Lớp: K43D4 Luan van 5 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp - Chương 2: Lý luận cơ bản về kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng quy trình kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán Độc lập Quốc gia Việt Nam - Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính của công ty TNHH Kiểm toán Độc lập Quốc gia Việt Nam. Ngô Thị Hồng Lớp: K43D4 Luan van 6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 2. Một số khái niệm, định nghĩa 2.1 Khái niệm tài sản cố định, hao mòn tài sản cố định Tài sản cố định là tất cả những tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên 1 năm hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳ kinh doanh lớn hơn hoặc bằng 1 năm). TSCĐ hữu hình, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03, là những tài sản có hình thái vật chất do DN nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.
TSCĐ vô hình, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04, là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do DN nắm giữ, sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình. TSCĐ thuê tài chính, theo quyết định 206/2003/QĐ-BTC, là những TSCĐ DN thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
Mọi hợp đồng thuê TSCĐ nếu không thỏa mãn các quy định trên được coi là TSCĐ thuê hoạt động. Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần về giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do TSCĐ tham gia vào sản xuất, kinh doanh, do hao mòn tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật…trong quá trình hoạt động của TSCĐ. Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao (hoặc nguyên giá) của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trongh suốt thời gian sử dụng TSCĐ. Ngô Thị Hồng Lớp: K43D4 Luan van 7 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp 2.2 Khái niệm kiểm toán Kế toán là công cụ quản lý kinh tế, tài chính thể hiện ở chỗ kết quả công việc kế toán là đưa ra các thông tin trên BCTC và những chỉ tiêu phân tích, đề xuất giúp cho người lãnh đạo, điều hành đưa ra quyết định đúng đắn.
Vì thế, mọi người sử dụng thông tin từ BCTC đều mong muốn nhận được các thông tin trung thực và hợp lý. Hoạt động kiểm toán ra đời là để kiểm tra và xác nhận về sự trung thực và hợp lý của các tài liệu kế toán và BCTC của các doanh nghiệp, tổ chức; để nâng cao sự tin tưởng của người sử dụng các thông tin từ BCTC đã được kiểm toán. Theo giáo trình “Kiểm toán” của các tác giả Alvin và James K.Loebbecker, kiểm toán được định nghĩa như sau: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập thu thập và đán giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”. Theo định nghĩa của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) “ Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến cuả mình về BCTC” 2.3 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tài sản cố định Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành ( hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị.
Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các báo cáo tài chính được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực hợp lý của báo cáo tài chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập. Trong kiểm toán BCTC, đối tượng kiểm toán là các báo cáo tài chính, gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính. Các báo cáo này chứa đựng những thông tin tài chính và những thông tin phi tài chính, thông tin định lượng và thông tin không định lượng, phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình và Ngô Thị Hồng Lớp: K43D4 Luan van 8 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp kết quả lưu chuyển tiền tệ và các thông tin cần thiết khác để người sử dụng BCTC có thể phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình và kết quả kinh doanh của đơn vị. TSCĐ là khoản mục quan trọng trên BCTC.
Bởi vậy, kiểm toán TSCĐ được đánh giá là một phần hành quan trọng trong hoạt động kiểm toán BCTC Kiểm toán TSCĐ: Là việc KTV kiểm tra và đưa ra ý kiến về việc trình bày các khoản mục TSCĐ trong BCTC của đơn vị kế toán có đúng đắn, trung thực, hợp lý với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán thông dụng được sử dụng hay không. Một số lý thuyết về kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính 2.1 Vai trò và mục tiêu kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính 2. Vai trò kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC Kiểm toán BCTC có hai chức năng là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán. Chức năng xác minh tập trung vào tính trung thực của các con số trên bảng khai tài chính và tính hợp lý của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính trong đơn vị.
Hình thức của chức năng bày tỏ ý kiến trong kiểm toán BCTC là thư quản lý. Với doanh nghiệp sản xuất, hoạt động kinh doanh đang phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu, đòi hỏi phải có một lượng TSCĐ thích hợp cho kinh doanh. Do đó, vấn đề quản lý TSCĐ càng trở nên phức tạp. Thông qua kiểm toán TSCĐ, KTV xem xét, đánh giá việc đầu tư, quản lý, sử dụng TSCĐ và đưa ra kiến nghị giúp cho doanh nghiệp cải tiến nâng cao hiệu quả hoạt động.
Tuy nhiên, giá trị khoản mục TSCĐ trong tổng tài sản của đơn vị khác nhau tuỳ theo từng ngành nghề, tuỳ theo loại hoạt động. Mặt khác, chi phí mua sắm, đầu tư cho TSCĐ lớn, quay vòng vốn chậm. Để đảm bảo hiệu quả của việc đầu tư cho TSCĐ, kiểm toán nghiệp vụ TSCĐ sẽ đánh giá tính kinh tế và hiệu quả của việc đầu tư, định hướng cho đầu tư và nguồn sử dụng để đầu tư sao cho có hiệu quả cao nhất. Đồng thời, kiểm toán TSCĐ sẽ phát hiện ra các sai sót trong việc xác định chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sửa chữa này thường dẫn tới những sai sót trọng yếu trên BCTC.
Chẳng hạn, việc trích khấu hao TSCĐ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh thường bị trích cao hoặc thấp hơn so với thực tế, gây tăng hoặc giảm chi phí so với thực tế, do đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu chi phí và lợi nhuận trên Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh Ngô Thị Hồng Lớp: K43D4 Luan van 9 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp nghiệp. Việc không phân biệt chi phí sửa chữa được ghi tăng nguyên giá TSCĐ (sửa chữa lớn nhằm cải tạo, nâng cấp TSCĐ) với chi phí sửa chữa tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ (sửa chữa lớn nhằm phục hồi năng lực hoạt động của TSCĐ) dẫn đến sai lệch trong khoản mục TSCĐ hoặc khoản mục chi phí sản xuất kinh doanh… Do vậy, kiểm toán khoản mục TSCĐ không chỉ nhằm phát hiện sai sót trong các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ mà còn nhằm mục đích góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý TSCĐ ở doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.2 Mục tiêu kiểm toán tài sản cố định Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 200 thì “Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Mục tiêu của kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Kiểm toán TSCĐ là một bộ phận của kiểm toán BCTC, do đó, mục tiêu kiểm toán của khoản mục TSCĐ cũng hướng đến mục tiêu chung của kiểm toán BCTC là giúp KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của BCTC trên những khía cạnh trọng yếu, sự tuân thủ pháp luật có liên quan và sự tuân thủ các chuẩn mực kế toán hiện hành.
Mục tiêu kiểm toán gồm sáu mục tiêu chung. Đối với khoản mục TSCĐ sáu mục tiêu chung được cụ thể hóa thành sáu mục tiêu đặc thù: Bảng 2.1: Mục tiêu kiểm toán TSCĐ MỤC TIÊU KIỂM MỤC TIÊU KIỂM TOÁN ĐẶC THÙ KHOẢN MỤC TSCĐ TOÁN CHUNG Tính hiện hữu Các TSCĐ được ghi vào sổ là có thật; Các nghiệp vụ tăng, giảm, khấu hao TSCĐ trong kỳ đều có căn cứ ghi sổ hợp lý.