CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Khái niệm, chức năng và phân loại kiểm toán nói chung 1. Khái niệm của kiểm toán Trên thế giới, thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu, từ khi xuất hiện nhu cầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế.
Ở Việt Nam, khái niệm kiểm toán mới xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, với sự ra đời của các công ty kiểm toán và tu vấn tài chính trực thuộc Bộ Tài chính. Thuật ngữ kiểm toán đã đuợc nhiều nhà kinh tế học bàn tới, trong đó, nổi bật là các khái niệm kiểm toán sau: Theo giáo trình Lý thuyết kiểm toán của Truờng Đại học Kinh tế quốc dân quan niệm: iiKiem toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” [8, tr.30]; Trong giáo trìnhKiểm toán của Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh nêu: “Kiểm toán là một quá trình do Kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập tiến hành nhằm thu thập bằng chứng về những thông tin có thể định lượng của một tổ chức và đánh giá chúng nhằm thẩm định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập[9,tr. Nhu vậy, tuy các định nghĩa nêu trên cách diễn đạt và từ ngữ khác nhau song chúng đều thống nhất ở những nội dung cơ bản sau: 5 - Chủ thể tham gia hoạt động kiểm toán: Người thực thi công việc kiểm toán (kiểm toán viên) và các đơn vị kinh tế (gọi chung là các doanh nghiệp) có các thông tin kinh tế được kiểm toán. - Đối tượng kiểm toán: Là các thông tin kinh tế được kiểm toán mà kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến về những thông tin này sau quá trình thực hiện công việc kiểm toán.
- Mục tiêu của kiểm toán: Kết thúc quá trình kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra ý kiến về đối tượng được kiểm toán. Chính vì vậy có thể thấy một khái niệm chung nhất, đầy đủ nhất về kiểm toán như sau: ii Kiem toán là một quá trình mà trong đó, một hoặc một số kiểm toán viên đủ năng lực, độc lập, có thẩm quyền, tiến hành thu thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng liên quan đến các hoạt động của một đơn vị nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập ”[4, tr. KTV đủ năng lực, độc lập có thẩm quyền: Là người đã đạt được những tiêu chuẩn chất lượng nghề nghiệp nhất định, nói cách khác phải là người có đủ khả năng để hiểu các chuẩn mực kiểm toán sử dụng và biết được các loại, số lượng bằng chứng cần thu thập nhằm đạt được kết luận hợp lý sau khi xem xét chúng; có mức độ độc lập tương ứng với từng loại hình kiểm toán và được bổ nhiệm để thực hiện chức trách này. Bằng chứng kiểm toán: Là mọi thông tin xác thực có liên quan đến hoạt động của khách hàng mà KTV thu thập được trong quá trình kiểm toán.
Các thông tin này chứng minh một cách đầy đủ, thích hợp và đáng tin cậy cho các kết luận của KTV ghi trong báo cáo kiểm toán. Báo cáo: Là văn bản trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận của KTV về mức độ phù hợp giữa các thông tin và với các chuẩn mực đã được xây dựng. 6 Các chuẩn mực để đánh giá thông tin có thể rất phong phú, có nhiều loại đa dạng sự biến đổi linh hoạt đuợc thiết lập tùy theo mục đích của từng loại kiểm toán nhu: Chuẩn mực kế toán, các văn bản pháp lý như Luật, Nghị định, Thông tư, các quy chế, nội quy của cơ quan.Tất cả các căn cứ để KTV lấy đó để so sánh sự phù hợp, tính đúng sai, mức độ chấp hành, tuân thủ các quy định của Nhà nước, của ngành, của cơ quan.đối với đơn vị tổ chức được kiểm toán. Khái niệm kiểm toán này đã bao quát toàn bộ bản chất và chức năng của kiểm toán, đã được chuyên gia kiểm toán thuộc các hiệp hội kiểm toán quốc tế thừa nhận; khái niệm đó cũng cũng rất phù hợp với thực tế tại Việt Nam.
Theo khái niệm này thì kiểm toán được áp dụng đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh, các đơn vị hành chính sự nghiệp, với bất kỳ loại hình, đối tượng kiểm toán nào như kiểm toán BCTC hoặc phi tài chính, kiểm toán tuân thủ, hoạt động. Phân loại kiểm toán Tùy theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân ra nhiều loại kiểm toán khác nhau: * Theo chủ thể thực hiện kiểm toán Việc đánh giá thông tin khách quan hay không và giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán ở mức độ nào tuỳ thuộc vào chủ thể thực hiện kiểm toán. Thông thường có 3 chủ thể thực hiện kiểm toán, do đó có 3 loại kiểm toán: - Kiểm toán Nhà nước: KTNN là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán tài sản công. Nội dung của kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ và các chế độ của Nhà nước và đánh giá sự hữu hiệu, hiệu quả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước.
Kiểm toán Nhà nước nhận xét, đánh giá 7 và xác nhận việc chấp hành các chính sách, chế độ tài chính, kế toán ở đơn vị. Bên cạnh đó Kiểm toán Nhà nước còn có quyền góp ý và yêu cầu các đơn vị được kiểm toán sửa chữa sai phạm và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý tài chính kế toán cần thiết. - Kiểm toán độc lập: Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán được tiến hành bởi các KTV thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ tư vấn được pháp luật thừa nhận và quản lý chặt chẽ.
Quan hệ giữa các chủ thể kiểm toán (kiểm toán viên/tổ chức kiểm toán và đơn vị kinh tế được kiểm toán) là quan hệ mua bán dịch vụ, đơn vị kinh tế được kiểm toán trả phí dịch vụ cho các KTV theo thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán. Các KTV độc lập là những người hội đủ các tiêu chuẩn theo chuẩn mực kiểm toán và các quy định pháp lý về hành nghề kiểm toán. Hoạt động kiểm toán độc lập giúp các cơ quan chức năng và những người sử dụng thông tin tài chính của các đơn vị được kiểm toán có những căn cứ chắc chắn để khẳng định những thông tin mà họ đang sử dụng là trung thực, khách quan và hợp pháp. Từ đó họ có thể đưa ra những quyết định quản lý, kinh doanh phù hợp.
- Kiểm toán nội bộ: Hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức (gọi tắt là đơn vị) trong nền kinh tế thị trường luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn mà KTNN và Kiểm toán độc lập không thể kiểm soát và khống chế được, vì vậy, mỗi đơn vị đều phải có bộ phận KTNB của mình. KTNB là một chức năng thuộc một đơn vị, nó không hoàn toàn độc lập với đơn vị đó. Nhưng, trong khi thực hiện nhiệm vụ thì KTNB phải hoàn toàn độc lập với bộ phận quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị. 8 Theo cách hiểu như vậy, KTNB được định nghĩa như sau: iiKTNB là một hoạt động nội kiểm có tính độc lập trong các cơ quan, đơn vị kinh tế, thực hiện chức năng chính là kiểm tra, đánh giá các hoạt động tài chính và phi tài chính nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động đó và góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý tại các đơn vị kinh tế cơ sở”.
Trên thế giới, KTNB đã trở thành một nghề có tính chuyên nghiệp. Hiệp hội các Viện Kiểm toán viên nội bộ đã được thành lập năm 1941. Hiện nay Hiệp hội đã có hơn 100 tổ chức quốc gia tham dự với số thành viên khoảng 50.000 Kiểm toán viên nội bộ. * Theo nội dung kiểm toán Tuỳ theo mục đích của người sử dụng thông tin, một cuộc kiểm toán có thể tiến hành đồng thời hoặc một trong ba loại kiểm toán sau: - Kiểm toán hoạt động: Kiểm toán hoạt động là quá trình kiểm toán nhằm đánh giá tính hữu hiệu (hiệu lực) và tính hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị.
Đánh giá tính hiệu lực là đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ, chức năng được giao hay mục tiêu đặt ra của bộ phận hay đơn vị được kiểm toán. Đánh giá tính hiệu quả là đánh giá quan hệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của một bộ phận hay đơn vị được kiểm toán. Đối tượng của kiểm toán hoạt động tương đối đa dạng, từ đánh giá khía cạnh tài chính của một phương án kinh doanh, một quy trình công nghệ, một loại tài sản mới được đưa vào hoạt động đến việc luân chuyển chứng từ trong một bộ phận hay đơn vị,. Báo cáo kiểm toán hoạt động chủ yếu đánh giá tiềm năng nên nó không mang tính công khai.
Vì vậy, các tổ chức Kiểm toán độc lập thường không 9 thực hiện loại kiểm toán này mà kiểm toán hoạt động thường là những nội dung không thể thiếu được trong kế hoạch KTNB. Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán khó lượng hoá. Chúng ta có thể lượng hoá được các tiêu thức về tính hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực nhưng đối với mối quan hệ giữa các chức năng và hiệu quả hoạt động của từng chức năng thì lại rất trừu tượng, khó lượng hoá. Vì vậy, khó có thể đưa ra một khuôn mẫu chung cho loại kiểm toán này, việc lựa chọn chuẩn mực thường mang tính chủ quan tùy thuộc vào nhận thức của kiểm toán viên.
Kết quả kiểm toán hoạt động chủ yếu phục vụ lợi ích cho bản thân đơn vị được kiểm toán.